Trang chủ Diễn đàn Bàn về đào tạo tổng công trình sư

Bàn về đào tạo tổng công trình sư

Các hạng mục lớn của Nhà máy lọc dầu Dung Quất được các nhà thầu Nhật Bản, Tây Ban Nha, Pháp thực hiện.

Nhu cầu từ thực tế

Những năm qua chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tích trong đào tạo cán bộ cho các ngành kinh tế quốc dân nói chung và các ngành công nghiệp nói riêng. Bên cạnh những thành công lớn đó cũng còn có đôi điều trăn trở. Một trong số đó, vẫn tồn tại câu hỏi là cuộc sống thực tế rất đa dạng nhưng tại sao việc “chuẩn hóa cán bộ” hầu như lại vạch ra chỉ có một lối mòn: sau khi có tấm bằng kỹ sư, cố kiếm lấy cái danh hiệu thạc sỹ, rồi tiến sỹ, mặc dù công việc và nghề nghiệp không cần đến chúng. Tại sao các danh hiệu này lại là mốc để tăng lương tiến chức, mà không phải là các kết quả thực tế đạt được trong công việc?

Trước hết cần đề cập đôi điều về tình hình đào tạo tiến sỹ hiện nay. Ở những nơi đang cần nhiều tiến sỹ, như các trường đại học, cao đẳng, các cơ sở nghiên cứu khoa học thì việc đó là rất cấp thiết, nhưng lại rất nên chú trọng đến chất lượng và hiệu quả ứng dụng của công tác đào tạo này. Theo chúng tôi, cần xây dựng tư duy chuẩn xác hơn về công tác đào tạo nghiên cứu sinh (NCS). Về thực chất đây không đơn thuần là công việc đào tạo mà bản chất của công tác đào tạo NCS là xây dựng mạng lưới cán bộ hoạt động khoa học được kích thích bằng bằng cấp. Mạng lưới này là nòng cốt để phát triển khoa học theo một kế hoạch chiến lược của Nhà nước, bao gồm các đề tài, dự án trọng điểm. Vì thế, danh mục các đề tài luận án NCS, về đại thể, cũng phải nằm trong kế hoạch chiến lược đó. Đồng thời các đề tài, dự án trọng điểm cũng phải có trách nhiệm vừa triển khai một nội dung khoa học mới, vừa đào tạo NCS để có người tiếp tục ứng dụng và phát triển nội dung khoa học mới đó.

Mạng lưới cán bộ khoa học này phải được xây dựng từng bước với nội lực chủ yếu phải là từ trong nước. Cử học viên đi du học ở nước ngoài là hết sức cần thiết, nhưng cũng cốt là để nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng ở trong nước mạng lưới hoạt động khoa học ngày càng đồng bộ hơn, hiệu quả hơn. Để có thể đạt được sự hỗ trợ thiết thực đó phải có sự chỉ đạo chiến lược từ tầm nhìn quốc gia cho một tương lai không xa. Thực tế cũng có không ít các trường hợp học viên ở nước ngoài được học đúng vào những vị trí có nội dung mà mạng lưới hoạt động khoa học trong nước đang rất cần, nên đã phát huy được rất tốt, thậm chí nâng được trình độ khoa học trong nước ở lĩnh vực đó lên tầm cao mới. Nhưng khá nhiều trường hợp đơn vị cử đi học cũng chẳng biết người đang đi học nước ngoài, ngay cả bằng kinh phí nhà nước, đang làm đề tài gì, sau này liệu có phù hợp với thực tế trong nước không, miễn là kiếm được cái bằng đem về. Nếu không sớm tăng cường chỉ đạo từ trong nước thì e rằng việc gửi hàng vạn học viên sau đại học đi học nước ngoài lại là việc xuất khẩu lao động có đào tạo mà phải tự bỏ tiền!

Một đòi hỏi thực tế nữa là cần quan tâm đến việc đào tạo liên tục cập nhật kiến thức, ngay cả đối với những người đã có bằng cấp. Có thể nói trong những thập kỷ tới, sự tăng trưởng của công nghiệp nước nhà phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếp thu những tiến bộ và sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ hiện đại. Điều đó có tính quyết định trong sự hòa nhập vào sự cạnh tranh trên thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hóa. Ở nhiều đề tài trong nước, hiện nay hầu hết chỉ là triển khai các nhiệm vụ kỹ thuật, chứ chưa chứa đựng nhiều nội dung nghiên cứu khoa học. Giải quyết được các vấn đề kỹ thuật là rất cần thiết để hoàn thành các nhiệm vụ trước mắt với sự cố gắng đạt được một chuẩn mực nào đó, nhưng thường là theo mẫu có sẵn. Nhưng chỉ thế là chưa đủ vì chưa thể có sản phẩm đáp ứng các yêu cầu cạnh tranh được, chưa thể đem đến một sự biến đổi lớn lao nào về trình độ sản xuất được. Các thay đổi công nghệ mà thế giới đang trải qua cho thấy sự cập nhật kiến thức và kỹ năng hiện đại là công việc đòi hỏi thường xuyên và nhạy bén. Sự ra đời của hình thức “đào tạo liên tục” ở nhiều nước xuất phát từ những bối cảnh đó và ở ta rất nên học tập áp dụng các kinh nghiệm quý báu đó.

Trong thực tế hoạt động kinh tế - xã hội ở ta có không ít các kỹ sư đã tự rèn luyện, rất biết cách học hỏi từ thực tiễn, từ kho thông tin vô cùng phong phú, ngay ở trên mạng internet và biết tích lũy kinh nghiệm qua quá trình công tác, nên đã trở thành những cán bộ có kiến thức tổng hợp hệ thống, có khả năng cập nhật thông tin kỹ thuât chuyên ngành, có kinh nghiệm thực tế chỉ đạo, quản lý các công trình lớn, tầm cỡ. Tất nhiên, nếu được đào tạo có bài bản một cách chủ động thì chắc chắn họ sẽ trưởng thành nhanh hơn, toàn diện hơn. Hình thức đào tạo thích hợp đối với họ là tổng công trình sư (TCTS). Quy mô lớn nhỏ và mức độ phức tạp của các loại công trình cũng khác nhau, nên yêu cầu đào tạo TCTS cũng có các chuẩn mực khác nhau.

Phương thức đào tạo TCTS trình bày dưới đây, xây dựng trên quan điểm rằng đào tạo TCTS không chỉ cốt để lấy cái bằng mà có mục đích cao hơn là cho học viên nâng cao kiến thức tổng hợp hệ thống, biết cách vận dụng được những thông tin cập nhật, có hiểu biết sâu rộng về chuyên ngành, có khả năng đảm nhiệm được những công trình lớn, giành lại phần lớn kinh phí, mà lâu nay chỉ có người nươc ngoài chiếm giữ.

Vấn đề đào tạo TCTS

Các TCTS là những cán bộ làm công tác kỹ thuật hoặc quản lý, có kiến thức tổng hợp hệ thống, có chuyên môn sâu về một ngành và có tầm hiểu biết rộng về các lĩnh vực có liên quan, có năng lực quản lý điều hành một hệ thống kinh tế - kỹ thuật cụ thể. Ở các nước hầu như không có hệ thống đào tạo chính quy loại TCTS , trong thực tế ít có khả năng nhờ được nước ngoài đào tạo giúp TCTS cho mình. Ở các nước cũng vậy, hầu như các TCTS đều trưởng thành từ quá trình tự rèn luyện, tích lũy qua thực tế công tác trong nhiều năm và được bồi dưỡng một cách hệ thống qua những đợt tổng kết, phân tích sâu về chuyên môn, cập nhật những kiến thức hiện đại. Một đặc điểm của các khóa học bồi dưỡng này là cách học phân tích tình huống cụ thể. Như thế, việc tổ chức đào tạo TCTS ở trong nước có thể là hợp lý hơn vì dễ phù hợp với các điều kiện cụ thể ở Việt Nam.

Ý thức được tầm quan trong của việc đào tạo TCTS ở trong nước, vào những năm 2003-2006 tôi đã đôi lần đề xuất phương án và phân tích khả năng hiện thực việc đào tạo TCTS trong khu vực công nghiệp. Các báo cáo này có trình bày và thảo luận ở một vài hội nghị khoa học và đăng trên một vài tờ báo. Qua đó cũng nhận được nhiều ý kiến đồng tình ủng hộ, nhất là từ các cơ sở sản xuất. Đồng thời cũng đã xây dựng bản dự án về đào tạo TCTS, trong đó trình bày các nội dung chủ yếu về chương trình đào tạo, cách thức xây dựng đội ngũ giảng viên, phân tích tính khả thi và các bước triển khai,…

Đào tạo TCTS không đơn thuần là công tác đào tạo

Ở ta hiện nay chưa tiến hành đào tạo TCTS, mặc dù đang rất cần nhiều cán bộ này để có khả năng nhận tổng thầu các công trình lớn. Đào tạo TCTS không đơn thuần là công việc đào tạo mà là để triển khai một “mặt trận” kinh tế - xã hội. Lâu nay ở trong nước hầu như chỉ nhận được thầu phụ, làm công việc xây lắp, chiếm khoảng 20% tổng giá trị công trình. Nếu có TCTS đảm nhận được tổng thầu thì sẽ đem lại lợi ích rất lớn về kinh tế vì có thể dành lại 80% tổng giá trị các công trình đó. Sau “sự kiện” Tổng Công ty lắp máy Việt Nam bước đầu thành công trong việc nhận tổng thầu một số công trình lớn, không ít các công ty nước ngoài gièm pha trong một vài hội thảo, cốt để chúng ta nao núng không quyết tâm tiếp tục triển khai công việc này. Điều đó có thể là do đụng chạm đến lợi ích quá lớn mà họ thu được từ vị trí tổng thầu, cho nên họ tìm mọi cách khống chế

Cách thức đào tạo TCTS

Như vậy, đối với việc đào tạo TCTS không nên quá quan trọng hóa việc cấp bằng, nhưng chất lượng đào tạo TCTS lại phải là tiêu chí rất quan trọng, vì nó có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công trình mà họ phụ trách, nên phải xem đây là một dạng đào tạo đặc cách. ”Sản phẩm đầu ra” và “địa chỉ ứng dụng” của việc đào tạo này đã được xác định, nên từ đó có thể suy ngược lại khá rõ nội dung các bước đi cần  thiết  trong đào tạo. Có thể coi đây là hình thức đào tạo theo kiểu “may đo” (made in tailor). Một loại “giáo trình” trọng yếu, cần được sử dụng cho công tác đào tạo TCTS, là bộ tài liệu tổng kết kỹ thuật về một chuyên ngành nào đó, đã được triển khai nhiều năm ở trong nước, với cách nhìn tổng hợp hệ thống và phân tích toàn diện trong ánh sáng của các nguồn thông tin hiện đại của thế giới, mà ngày nay không quá khó khăn để tìm kiếm được. Cũng như phương pháp “made in tailor”, phương pháp “phân tích tình huống” (case study) này đang được áp dụng rất hiệu quả trong công tác đào tạo ở nhiều nước phương Tây. Thêm vào đó, việc thực tập, tham quan, khảo sát ở các cơ sở sản xuất nước ngoài là rất cần thiết.

Ngày nay, hầu như trong nhiều ngành kinh tế kỹ thuật, nhất là các ngành công nghiệp, khi bắt đầu triển khai các công trình lớn đều gặp phải nhiều vấn đề về trang bị và vận hành hệ thống thiết bị. Các thành tựu khoa học và tiến bộ kỹ thuật trong ngành Cơ khí, Cơ điện tử và Tự động hóa đã làm thay đổi diện mạo nhiều ngành sản xuất, dịch vụ. Đã xuất hiện những nhà máy không có người, văn phòng không có giấy, cuộc chiến không có lính, rồi đến các thuật ngữ mới máy thông minh, thiết bị thông minh,… Máy tính có thể từ việc trực tiếp điều khiển từng thiết bị, rồi đến các dây chuyền sản xuất, cả quản lý công nghệ đến quản lý toàn bộ hệ thống sản xuất. Nói đến tổng thầu thường nhắc đến chương trình máy tính EPC (Engineering Procurement Construction), gồm 3 công đoạn của tổng thầu: thiết kế (E), mua sắm (P) và xây lắp (C). Nhà thầu EPC là nhà thầu làm trọn gói, từ tính toán thiết kế, cung cấp thiết bị đến xây dựng lắp ráp, theo kiểu “chìa khóa trao tay”, hoặc có thể ký với các nhà thầu phụ một số công việc trong đó.

Do tổng thầu EPC tại Việt Nam hiện nay chủ yếu là nhà thầu nước ngoài nên phụ thuộc cả vào tiến độ lẫn công nghệ. Tình trạng chậm tiến độ, không đạt chỉ tiêu theo hợp đồng của Nhà máy phân bón DAP Đình Vũ (Hải Phòng) cách đây hơn 2 năm là một ví dụ điển hình - ảnh nguồn internet

Giảng viên đào tạo TCTS

Đội ngũ giảng viên đào tạo TCTS phải bao gồm cả 2 dạng: cán bộ có kinh nghiệm thực tế chỉ đạo, quản lý các công trình cụ thể và cán bộ có kiến thức tổng hợp hệ thống, có khả năng cập nhật thông tin về chuyên ngành. Các cán bộ dạng thứ 2 thường ở các trường đại học và các viện nghiên cứu, còn cán bộ dạng thứ nhất thường ở các công trình sản xuất. Qua từng thời kỳ cũng có nhiều tài liệu kỹ thuật đánh giá mức hoàn thành và hiệu quả công việc làm được của những công trình trước đây, nhưng hầu như chưa có những bộ tài liệu tổng kết về loại hình công nghệ, về hệ thống thiết bị, về hiệu quả đầu tư, về các mối quan hệ trong hệ thống chuyên ngành với thị trường thế giới,…

Việc xây dưng được các bộ tài liệu tổng kết chuyên ngành nói trên và tổng hợp, phân tích chúng, đối chiếu với những nguồn thông tin hiện đại của thế giới hôm nay, sẽ là những tài liệu rất bổ ích để giảng dạy đào tạo TCTS. Biết học trong những bước đi của quá khứ là dấu hiệu thành công trong những bước đi của tương lai!

GS.TSKH.NGND.Nguyễn Thiện Phúc

Số 155+156 (1+2/2014)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật