Trang chủ Diễn đàn Cần tạo nên trào lưu đổi mới công nghệ

Cần tạo nên trào lưu đổi mới công nghệ

“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên” đó là lời của Acsimet, một nhà cơ học thiên tài thời cổ, người đã khám phá ra các định luật về đòn bẩy. Vẫn biết mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng có thể ví nền KH&CN của ta như thế. Nếu có một lực đủ lớn tác động vào, chắc chắn KH&CN của ta sẽ phát triển như mong muốn.

Cũng như vậy, trong vấn đề chuyển giao công nghệ, chúng ta đã có Luật Chuyển giao công nghệ, đây có thể coi là “điểm tựa” để thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ, nâng tiềm lực KHCN nước nhà. Để tìm hiểu thêm về cơ chế chính sách đối với lĩnh vực chuyển giao công nghệ của nước ta trong thời  gian qua, chúng tôi đã gặp gỡ TS.Nguyễn Duy Thịnh - Nguyên Viện phó Viện Chiến lược và Chính sách KHCN (Bộ KH&CN) cùng trao đổi vấn đề này.

TS.Nguyễn Duy Thịnh:

PV: Thưa tiến sỹ, ông nhận định như thế nào về cơ chế chính sách cho phát triển KHCN của nước ta trong thời gian qua?
TS.Nguyễn Duy Thịnh: Trong giai đoạn vừa qua chúng ta đã hoàn thiện khung khổ pháp lý rất nhiều, từ năm 2000 sau khi ra đời Luật KHCN đến nay có nhiều Luật liên quan chặt chẽ đến vấn đề phát triển KHCN. Vì vậy, về mặt khung khổ pháp lý tôi cho rằng tương đối đầy đủ, bám sát được cơ chế quản lý chung của các nước phát triển nhất là trong thời điểm hiện nay khi chúng ta đang hội nhập quốc tế và đã hòa nhịp với sự phát triển của họ. Các khung khổ pháp lý đó phần lớn phải tương hợp với thế giới phù hợp với yêu cầu khi chúng ta gia nhập WTO.
Tuy nhiên, hệ thống Luật pháp mới chỉ đưa ra những nguyên lý chung, còn những cái cụ thể, chi tiết đi vào điều hành hàng ngày thì hệ thống văn bản dưới Luật vẫn triển khai ở mức độ nhất định, chưa cụ thể hóa được để có thể đi vào cuộc sống.
PV: Từ khi có Luật chuyển giao công nghệ (CGCN), tình hình chuyển giao công nghệ của nước ta diễn ra như thế nào thưa ông?
TS. Nguyễn Duy Thịnh: Trước khi có Luật CGCN chúng ta có Pháp lệnh CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam ban hành năm 1987. Đến năm 1995 bộ Luật dân sự ra đời, vấn đề CGCN nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu đặt trong bộ Luật dân sự đó, sau đó có các Nghị định, các văn bản triển khai hướng dẫn do Bộ KH&CN chủ trì được Chính phủ thông qua và kéo dài cho đến trước khi Luật CGCN ra đời.
Về tình hình CGCN trong thời gian vừa qua vẫn diễn ra một cách bình thường và có xu thế tăng lên. Trước năm 2006 (trước khi Luật CGCN ra đời), tất cả các hợp đồng về CGCN đều phải thông qua Nhà nước xem xét và can thiệp. Từ năm 2006, việc này có tính chất thông thoáng hơn về mặt giá cả do hai bên tự thỏa thuận. Nhà nước không can thiệp, nhưng phần công nghệ thì được quản lý chặt hơn. Do vậy hoạt động CGCN được chia làm 3 loại: tự do chuyển giao, hạn chế chuyển giao, và cấm chuyển giao.
Về cơ chế chính sách hỗ trợ cho vấn đề chuyển giao, trong Luật cũng có nói đến các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao nếu thực hiện chuyển giao cho các vùng sâu, vùng xa hoặc các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì được sự hỗ trợ nhất định từ phía Nhà nước.
PV: Theo ông, Luật CGCN có tác động như thế nào đối với các doanh nghiệp Việt Nam?
TS. Nguyễn Duy Thịnh: Thực ra, về mặt cơ chế chính sách chưa có gì tỏ ra là không phù hợp với các yêu cầu của doanh nghiệp, có chăng chỉ có thể là Nhà nước xem xét cho phép hay không cho phép chuyển giao thì cái đó đã được dỡ bỏ rất nhiều. Về mặt nguyên tắc cơ chế chính sách đã thông thoáng như vậy thì doanh nghiệp được tự do chuyển giao công nghệ. Chỉ có điều bản thân doanh nghiệp chưa có nhu cầu để đổi mới công nghệ, mà để khơi dậy được điều này phải là do sức cạnh tranh của thị trường, không đổi mới công nghệ thì hàng hóa không bán được do chất lượng thấp nhưng giá thành lại cao, thị trường không chấp nhận, lúc đó doanh nghiệp sẽ xem xét phải đổi mới công nghệ như thế nào. Nếu đoanh nghiệp không ở tình thế như vậy sẽ không có nhu cầu đổi mới công nghệ. Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ truyền thống thì chưa quan tâm thỏa đáng đến vấn đề về công nghệ sản xuất, họ cứ sản xuất mà không cần đổi mới công nghệ. Vì vậy việc đổi mới công nghệ chưa tạo nên trào lưu chung.
Đối với những doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ nhưng lại không biết tìm mua công nghệ mình cần ở đâu, thủ tục pháp lý như thế nào, thanh toán ra sao, giá cả bao nhiêu là vừa?... tất cả những cái đó Luật CGCN đã cố gắng giúp cho vấn đề đó, nhưng việc triển khai cụ thể vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Vừa qua, các hoạt động như Techmart, Sàn giao dịch công nghệ ở Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng, nhất là sàn Tp.HCM có từ lâu nên việc giao tiếp công nghệ tương đối nhiều. Nhưng thực tế cái khó của doanh nghiệp Việt Nam là họ không biết mình cần công nghệ gì nên nhiều khi đến sàn giao dịch công nghệ cũng vẫn cần phải có người tư vấn lựa chọn công nghệ. Hơn nữa, việc tiếp cận kho thông tin tư liệu KHCN chưa phải là thói quen của doanh nghiệp, điều này cũng gây khó khăn cho quá trình CGCN. Ở các nước phát triển, việc tìm kiếm công nghệ, tư vấn đàm phán ký kết hợp đồng… các thủ tục đó diễn ra một cách thường xuyên và nhanh gọn. Còn ở ta thì các doanh nghiệp và ngay cả các cơ quan quản lý Nhà nước cũng không phải là thuần thục trong vấn đề này nên sắp tới chúng ta còn nhiều việc phải làm.
PV: Ông nhận định như thế nào về việc chuyển giao công nghệ có tác động đến nguồn nhân lực Việt Nam?
TS. Nguyễn Duy Thịnh: Vấn đề làm chủ, thích nghi và cải tiến công nghệ là một chủ trương lớn của Nhà nước đặt ra. Chúng ta khuyến khích nhập công nghệ tiên tiến, công nghệ hiện đại vào trong nước để sản xuất. Sau khi nhập rồi thì làm sao để nhân lực của mình làm chủ được công nghệ đó. Để thực hiện được điều đó một mặt phải nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, của các cơ quan nghiên cứu để tiếp cận và làm chủ công nghệ được nhập. Mặt khác, công nghệ đó phải thích nghi với điều kiện Việt Nam, đồng thời chúng ta phải cải tiến công nghệ đó. Việc này phải được triển khai rất cụ thể trong các chương trình đổi mới công nghệ. Trong Luật CGCN có 2 công cụ rất lớn đó là: Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia đều nhằm vào việc nâng cao năng lực công nghệ của các thành phần trong nước, doanh nghiệp và các tổ chức KHCN.
PV: Sắp tới, để thúc đẩy hơn nữa việc CGCN theo ông chúng ta cần phải làm gì?
TS. Nguyễn Duy Thịnh: Để thúc đẩy hơn nữa việc chuyển giao công nghệ, về mặt cơ chế chính sách, khung pháp lý đã tương đối đầy đủ, nhưng để cụ thể hóa chúng ta sẽ phải làm nhiều việc. Ví dụ, về vấn đề dịch vụ CGCN các dịch vụ được tổ chức từ phía Nhà nước như thế nào đó để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cho những người nông dân, cho cơ sở sản xuất tiếp cận được với công nghệ mới, công nghệ hiện đại, biết công nghệ đó ở đâu, ai có để mình tiếp cận được và giúp họ mua bán công nghệ đó thuận lợi về đàm phán giá cả cũng như thủ tục thanh quyết toán. Một vấn đề nữa trong Luật cũng đề cập đó là những kết quả nghiên cứu trong nước làm ra bằng ngân sách Nhà nước thì có thể giao quyền sở hữu và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu cho những nơi làm ra công nghệ đó. Về nguyên tắc thì như vậy, nhưng về mặt pháp lý, quy định cụ thể thì cần phải có văn bản hướng dẫn để các nhà khoa học khai thác kết quả đó một cách chủ động và được luật pháp bảo hộ.
Hiện nay chúng ta đang có 2 vấn đề lớn đang làm đó là Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia. Các quy định này đã được triển khai tại Bộ KH&CN 2 năm nay và Bộ cũng đang trình Chính phủ xem xét 2 loại quy định này để triển khai trên thực tiễn. Trong đó có nói rất nhiều đến việc hỗ trợ cho các vùng sâu vùng xa, vùng nông thôn miền núi, hỗ trợ cho một số ngành nghề nhất định phát triển đổi mới công nghệ như: hỗ trợ trong việc ươm tạo doanh nghiệp công nghệ, hỗ trợ cho các vấn đề chương trình trọng điểm của Nhà nước. Qua đó hy vọng năng lực công nghệ trong nước sẽ phát triển tốt lên và trình độ công nghệ của ta cũng tiến dần so với các nước tiên tiến.
PV: Trân trọng cảm ơn tiến sỹ!

Số 123 (1+2/2011)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật