Trang chủ Diễn đàn Các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn

Các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn

Bài báo trình bày tóm tắt một số nội dung của đề tài “Nghiên cứu, xây dựng các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam giai đoạn đến năm 2020” do Bộ Công Thương giao cho Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa chủ trì thực hiện trong năm 2010.

Trên cơ sở phân tích tình hình ứng dụng và phát triển tự động hóa (TĐH) của một số nước trên thế giới và thực trạng trong nước, những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức do môi trường bên trong và bên ngoài tạo nên đối với ứng dụng và phát triển tự động hóa, nhóm nghiên cứu đề xuất một số quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp, chính sách thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hóa vào các ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn đến năm 2020 như sau:

1. Quan điểm:
- Ứng dụng và phát triển TĐH vào các ngành công nghiệp mũi nhọn nhằm đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm công nghiệp, nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đặc biệt là một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có hàm lượng công nghệ cao phục vụ thiết thực nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững;
- Ứng dụng và phát triển TĐH vào các ngành công nghiệp mũi nhọn phải đồng thời đi theo cả hai hướng: tiếp thu, ứng dụng những công nghệ tự động hoá tiên tiến, hiện đại của nước ngoài và nâng cao năng lực KH&CN nội sinh để nghiên cứu làm chủ, sáng tạo công nghệ. Trong giai đoạn trước mắt, tiếp thu, ứng dụng công nghệ tự động hóa tiên tiến vẫn là hướng chủ yếu;
- Ứng dụng và phát triển TĐH vào các ngành công nghiệp mũi nhọn phải kết hợp một cách hợp lý giữa việc đổi mới công nghệ với việc tận dụng các công nghệ hiện có nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và khai thác mọi tiềm lực vốn có phục vụ phát triển sản xuất;
- Doanh nghiệp là trung tâm đổi mới và ứng dụng công nghệ. Tập trung các nguồn lực để tạo ra và phát triển một số sản phẩm tự động hóa có lợi thế cạnh tranh trong các ngành công nghiệp; phát triển mạnh các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm tự động hóa;
- Tạo môi trường thuận lợi, chính sách ưu đãi cao nhất cho ứng dụng và phát triển TĐH, khuyến khích tài năng công nghệ trẻ có tinh thần doanh nghiệp; Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển ngành công nghiệp chế tạo thiết bị TĐH đạt trình độ các nước tiên tiến trong khu vực;
- Ứng dụng và phát triển TĐH vào các ngành công nghiệp mũi nhọn phải đồng bộ với việc phát triển CNPT và phát triển nguồn nhân lực.

2. Mục tiêu

Đến năm 2020 trình độ TĐH của nước ta trong các lĩnh vực KT - XH phải tiếp cận trình độ của các nước phát triển trong khu vực. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp nói chung, các ngành công nghiệp mũi nhọn nói riêng, công nghệ sản xuất phải được đổi mới về cơ bản, các thiết bị và dây chuyền thiết bị sản xuất phải được TĐH ở mức độ cao, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, góp phần quan trọng đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

3. Nhiệm vụ
- Ứng dụng rộng rãi công nghệ tự động hóa vào các ngành công nghiệp mũi nhọn để đổi mới công nghệ sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành các sản phẩm công nghiệp truyền thống hoặc tạo ra các sản phẩm mới.
- Phát triển doanh nghiệp ngành công nghiệp chế tạo thiết bị tự động hóa. 
- Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực
- Phát triển công nghiệp phụ trợ

4. Các giải pháp và chính sách

a.Các giải pháp

-  Đa dạng hóa nguồn vốn huy động 
Vốn là yếu tố quan trọng để đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ, năng lực SXKD của doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập toàn cầu, các doanh nghiệp buộc phải tìm mọi cách để có thể huy động được vốn hoặc từ các nguồn vốn trong nước, hoặc từ các nguồn vốn nước ngoài thông qua các chính sách của Nhà nước.
-Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thực tiễn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong nhiều năm qua đã khẳng định vai trò tích cực của FDI đối với sự phát triển KT-XH đất nước. Vì thế, để tăng cường hơn nữa khả năng thu hút FDI, đặc biệt là trong lĩnh vực TĐH, việc bổ sung, hoàn thiện và xây dựng mới các chính sách nhằm tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, hấp dẫn là rất cần thiết.
-Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Thực tế nhân lực KH&CN về TĐH ở nước ta hình thành và phát triển “tương đối đa dạng”, kiến thức thiếu hệ thống và hoàn chỉnh, không đồng đều, khả năng tiếp cận nhanh kỹ thuật và công nghệ TĐH hiện đại hạn chế. Bối cảnh đó đòi hỏi phải có giải pháp đúng đắn, khoa học về đào tạo nguồn nhân lực cho ứng dụng và phát triển TĐH giai đoạn đến năm 2020.
- Xây dựng tiềm lực KH&CN và năng lực nội sinh về KH&CN tự động hoá
Một dân tộc chỉ có thể phát triển bền vững khi dân tộc đó có đủ khả năng nội tại của mình, vì vậy xây dựng tiềm lực KH&CN và năng lực nội sinh về KH&CN tự động hoá đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của đất nước là một trong những giải pháp quan trọng.
- Xây dựng và phát triển thị trường
Nhu cầu ứng dụng TĐH là rất lớn. Tuy nhiên để nhu cầu thực sự trở thành thị trường cho ứng dụng và phát triển TĐH lại phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của Nhà nước. Đã đến lúc Nhà nước phải mạnh dạn đặt hàng với các tổ chức nghiên cứu thiết kế KH&CN, các tập thể nhà khoa học có năng lực để giải quyết những bài toán quy mô lớn, hay nói cách khác, phải tạo lập thị trường lành mạnh, thông thoáng, thuận lợi cho các sản phẩm TĐH được chế tạo trong nước có chỗ đứng, chứ không phải chỉ đi mua của nước ngoài. 
- Thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tự động hóa
Công nghệ TĐH là một trong những công nghệ mũi nhọn của thế giới, đã và đang phát triển ở mức cao tại nhiều nước phát triển. Công nghệ TĐH có chu kỳ sống ngắn, đòi hỏi vốn đầu tư lớn và để thúc đẩy ứng dụng và phát triển TĐH ở những nước nghèo và đang phát triển như nước ta cần phải thông qua hợp tác quốc tế nhằm tìm kiếm công nghệ và tranh thủ vốn của nước ngoài.

b.  Các chính sách
Chính sách hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp sản xuất sản phẩm tự động hóa
Nội dung chính sách này bao gồm: 
- Tài trợ toàn bộ chi phí cho các dự án nghiên cứu tạo ra các thiết bị tự động hóa đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra các sản phẩm chủ lực của các ngành kinh tế, an ninh, quốc phòng; phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; hình thành tập thể các nhà khoa học mạnh; hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để nghiên cứu giải quyết các vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực tự động hóa ở Việt Nam;
- Tổ chức, cá nhân tự đầu tư nghiên cứu và phát triển các sản phẩm tự động hóa được hỗ trợ kinh phí để triển khai ứng dụng vào sản xuất và đời sống; khi có kết quả ứng dụng mang lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường thì được hỗ trợ chi phí nghiên cứu đã tự đầu tư;
- Hỗ trợ chi phí mua thông tin, công nghệ, máy móc thiết bị, sản phẩm mẫu, pa - tăng, li - xăng, phần mềm, thuê chuyên gia tư vấn đối với các dự án hợp tác nghiên cứu về tự động hóa giữa các doanh nghiệp và tổ chức KH&CN;
- Hỗ trợ kinh phí thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm các thiết bị tự động hóa; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và chi phí vận hành của cơ sở ươm tạo công nghệ tự động hóa, ươm tạo doanh nghiệp sản xuất thiết bị tự động hóa trong 5 năm đầu hoạt động.
Chính sách hỗ trợ ứng dụng, sản xuất thiết bị tự động hóa và đổi mới công nghệ, thiết bị
Nội dung chính sách này bao gồm:
- Đầu tư, hỗ trợ đầu tư các dự án ứng dụng, sản xuất các sản phẩm tự động hóa cho các ngành kinh tế, đặc biệt là các sản phẩm tự động hóa được ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển trong Quyết định số 49/2010/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ và các dự án đổi mới công nghệ theo hướng áp dụng TĐH trong các doanh nghiệp;
- Các thiết bị tự động hóa có tỷ lệ nội địa hoá cao, đảm bảo chất lượng, tính ổn định, độ bền, độ tin cậy và các tính năng kỹ thuật khác theo yêu cầu được bảo hộ thị trường thông qua chính sách bao tiêu hoặc sử dụng sức mua của Nhà nước;
- Các doanh nghiệp SXKD trong các ngành công nghiệp mũi nhọn tiến hành nghiên cứu cải tiến, nâng cấp và đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm theo hướng áp dụng tự động hóa được trích tối đa 30% phần thu nhập tăng thêm do đổi mới công nghệ, thiết bị trong vòng 02 năm (nếu các sản phẩm tự động hóa do các tổ chức, cá nhân trong nước chế tạo) và trong vòng 01 năm (nếu các sản phẩm tự động hóa nhập khẩu từ nước ngoài) cho quỹ đầu tư phát triển của doanh nghiệp;
- Các doanh nghiệp sản xuất thiết bị tự động hóa được trích 3 - 5% doanh thu từ hoạt động SXKD cho công tác NC&PT để cải tiến, sáng tạo công nghệ và phát triển sản phẩm tự động hóa mới;
- Hỗ trợ một phần kinh phí, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong nước tham gia chợ, hội chợ, triển lãm, quảng bá sản phẩm tự động hóa ở trong nước và nước ngoài.
Chính sách tín dụng đầu tư
Nội dung chính sách tín dụng đầu tư bao gồm:
- Các dự án đầu tư sản xuất thiết bị tự động hóa được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước tối đa 85% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động) và được hỗ trợ toàn bộ lãi suất vay trong thời hạn 5 năm;
- Các dự án đầu tư sản xuất thiết bị tự động hóa có nhu cầu vay vốn nước ngoài được Chính phủ xem xét bảo lãnh vốn vay cho từng trường hợp cụ thể;
- Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn có sử dụng thiết bị tự động hóa được vay vốn tín dụng đầu tư (phần vốn để mua các thiết bị tự động hóa) theo quy định. Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất vay ngân hàng trong thời gian 2 năm nếu sử dụng các thiết bị tự động hóa do các tổ chức, cá nhân trong nước chế tạo.
Chính sách kích cầu
Nội dung chính sách kích cầu bao gồm:
- Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế sản xuất các sản phẩm tự động hóa hoặc mua sản phẩm tự động hóa do trong nước chế tạo để đổi mới công nghệ, thiết bị được phép áp dụng hình thức chỉ định thầu hoặc giao thầu theo quy định của pháp luật hiện hành;
- Tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế sản xuất sản phẩm tự động hóa được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các công tác xúc tiến thương mại như xây dựng và phát triển thương hiệu, trình diễn giới thiệu công nghệ, tham gia sàn giao dịch, hội chợ, triển lãm, tiếp thị trong và ngoài nước;
- Các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn mua sản phẩm tự động hóa để đổi mới công nghệ, thiết bị được vay vốn tín dụng đầu tư. Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất vay ngân hàng trong thời gian 2 năm đối với các dự án tiêu thụ sản phẩm tự động hóa do trong nước chế tạo.
Chính sách thuế
Nội dung của chính sách thuế bao gồm:
- Áp dụng mức thuế suất 5% thuế giá trị gia tăng, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp 3 năm đầu và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp 2 năm tiếp theo đối với các sản phẩm TĐH được sản xuất lần đầu tiên ở trong nước;
- Không đánh thuế các sản phẩm tự động hóa thuộc các dự án sản xuất thử nghiệm;
- Không đánh thuế xuất khẩu trong vòng 3 năm đầu các sản phẩm tự động hóa mang thương hiệu “Sản xuất tại Việt Nam”;
- Miễn thuế nhập khẩu linh kiện, cấu kiện mà trong nước chưa sản xuất được phục vụ sản xuất và dịch vụ thuộc lĩnh vực tự động hóa;
- Các dự án đầu tư liên doanh với nước ngoài để sản xuất các sản phẩm tự động hóa được hưởng mọi ưu đãi về thuế theo quy định;
- Nâng thời gian miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp SXKD thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn mua sản phẩm tự động hóa để đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm tạo nguồn kinh phí trả vốn vay cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp chỉ mở rộng quy mô một cách thông thường, không thay đổi về chất thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm của năm đầu và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại của 2 năm tiếp theo. Đối với các doanh nghiệp do ứng dụng các sản phẩm tự động hóa nâng cao được chất lượng sản phẩm, tạo ra được sản phẩm mới đang có nhu cầu cao ở trong nước hoặc ngoài nước thì tuỳ theo mức độ, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm từ 2 đến 3 năm và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng thêm do ứng dụng các sản phẩm tự động hóa mang lại của 5 năm tiếp theo.
Chính sách sử dụng chuyên gia nước ngoài và Việt kiều
Việt Nam có một tiềm năng trí tuệ lớn trong hơn 3 triệu người Việt Nam đang sống và làm việc ở Mỹ, châu Âu và một số nước công nghiệp phát triển khác, trong đó tỷ lệ người có trình độ cao và có nhiều kinh nghiệm về ứng dụng và phát triển tự động hoá là rất đáng kể. Các chuyên gia là người nước ngoài và Việt kiều là một nguồn lực quan trọng.
Nội dung chính sách này bao gồm:
- Đảm bảo các điều kiện về tiền lương, nhà ở và môi trường làm việc cho các chuyên gia nước ngoài và Việt kiều về nước tham gia vào các hoạt động đào tạo, NCKH&PTCN trong lĩnh vực tự động hóa tương đương với các điều kiện mà họ được hưởng ở nước sở tại đang làm việc;
- Đảm bảo không phân biệt đối xử ở mọi địa bàn hoạt động, mọi loại hình dịch vụ;
- Có cơ chế nhập cảnh mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế, cho phép các chuyên gia nước ngoài, Việt kiều, những người lao động lành nghề nhập cảnh với thị thực dài hạn, đủ điều kiện về thời gian để hỗ trợ phát triển tự động hóa trong nước.
Chính sách khuyến khích cán bộ sau đào tạo đến làm việc tại các cơ sở sản xuất công nghiệp
Trong nhiều năm gần đây, các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở sản xuất công nghiệp ở xa Hà Nội và các thành phố lớn hầu như không tiếp nhận được đội ngũ cán bộ trẻ, vừa được đào tạo hoàn chỉnh tại các trường đại học trong và ngoài nước, vì họ không muốn sống và công tác ở các cơ sở sản xuất đó, mặc dù có thể họ từ đó ra đi và được đào tạo cho những ngành nghề gắn với môi trường làm việc ở đó.
Nội dung chính sách này bao gồm:
- Đánh giá đúng vai trò của lao động được đào tạo và có kỹ năng trong những thành công về kinh tế ở các doanh nghiệp do áp dụng tự động hóa mang lại để có chế độ thù lao tương xứng;
- Quy định rõ quyền lợi và trách nhiệm của người lao động làm công tác nghiên cứu và phát triển tại các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Có chế độ ưu đãi thích đáng đối với đối tượng lao động này theo nhóm ngành nghề và theo vị trí địa lý của doanh nghiệp, sao cho sự chênh lệch về thu nhập và chất lượng cuộc sống của họ không quá xa so với đồng nghiệp của họ sống và làm việc ở Hà Nội và các thành phố lớn khác;
- Sau 03 năm làm việc liên tục được đánh giá tốt về mức độ hoàn thành công việc, nếu người lao động làm công tác nghiên cứu và phát triển tình nguyện tiếp tục ký hợp đồng dài hạn ở lại làm việc tại doanh nghiệp, thì cả Nhà nước và doanh nghiệp đều phải có chế độ ưu đãi thoả đáng về thu nhập, đào tạo, môi trường sống và làm việc... để họ có điều kiện phát triển vươn lên.

5. Kết luận và kiến nghị
Trong những năm qua, tự động hóa ở Việt Nam đã được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ. Đội ngũ những người hoạt động trong lĩnh vực tự động hóa đã được tập hợp lại và phát triển để giải quyết những vấn đề thiết thực của Việt Nam mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Thông qua việc nhập khẩu công nghệ tiến tiến, hiện đại, kết hợp chặt chẽ với việc phát huy nội lực, chúng ta đã làm chủ và thích nghi các công nghệ nhập, đồng thời từng bước tạo ra được công nghệ của mình, đáp ứng nhu cầu đổi mới trình độ công nghệ, máy móc thiết bị trong nhiều doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng và phát triển tự động hóa trong các ngành công nghiệp mũi nhọn góp phần hoàn thành sự nghiệp CNH, HĐH và đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Nhà nước cần:
- Sớm ban hành chiến lược và lộ trình phát triển tự động hóa ở Việt Nam. Đặc biệt cần khẩn trương đưa ra hệ thống các chính sách mới và điều chỉnh các chính sách không phù hợp nhằm thúc đẩy ứng dụng và phát triển tự động hóa, phát huy nội lực tại Việt Nam;
- Tạo lập môi trường để thu hút và sử dụng công nghệ, thiết bị tự động hóa tiên tiến, hiện đại, đầu tư theo chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có, kết hợp công nghệ đã có với công nghệ hiện đại;
- Bổ sung và ban hành quy trình thẩm định, duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật và cấp giấy phép triển khai các dự án có áp dụng tự động hóa sao cho đơn giản, nhanh chóng nhưng tránh được nguy cơ nhập phải công nghệ, thiết bị lạc hậu, không phù hợp hoặc không phát huy được hiệu quả. Kiên quyết không để nhập những thiết bị cũng như giải pháp công nghệ mà trong nước có thể chế tạo được, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam đã là thành viên của WTO;
- Tạo động lực phát triển toàn diện đội ngũ cán bộ KH&CN. Thực hiện các chính sách tạo nguồn, đặc biệt các chính sách sử dụng nhân lực KH&CN vì mục tiêu phát triển đất nước theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH. Thu hút và tập hợp được nhiều nhân tài thực hiện việc nghiên cứu ứng dụng và phát triển tự động hóa vào các ngành kinh tế - xã hội;
- Tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để nâng cao tiềm lực KH&CN cho một số các trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học trong lĩnh vực tự động hóa, tạo điều kiện để các tổ chức này phát huy nội lực;
- Duy trì Chương trình NCKH&PTCN cấp Nhà nước về tự động hóa dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ KH&CN, đồng thời phải thay đổi một số phương pháp quản lý chương trình phù hợp hơn;
- Duy trì Chương trình KT-KT Quốc gia về tự động hóa dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công Thương. Tuy nhiên cần tổng kết và đánh giá nghiêm túc, toàn diện kết quả thực hiện của Chương trình, đồng thời cải tiến cách thức điều hành hoạt động của Chương trình sao cho phù hợp với các tiêu chí mà các nhà khoa học mong muốn khi đề nghị Nhà nước phê duyệt Đề án thành lập Chương trình là làm cầu nối để chuyển giao các sản phẩm NCKH&PTCN vào thực tiễn sản xuất với sự hỗ trợ một phần kinh phí của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhằm thúc đẩy ứng dụng và phát triển các sản phẩm tự động hóa sản xuất ở trong nước.

Ths. Trần Thanh Thủy và các cộng sự
Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa

Số 122 (12/2010)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật