Trang chủ Diễn đàn Coi học trò là sản phẩm và thương mại hóa được sản phẩm ấy là thành công trong đào tạo nghề

Coi học trò là sản phẩm và thương mại hóa được sản phẩm ấy là thành công trong đào tạo nghề

Đào tạo nghề và chất lượng lao động qua đào tạo nghề tại Việt Nam hiện nay đang thể hiện nhiều bất cập nhất là trong khi Chính phủ đang đặt mục tiêu tổng số nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế đạt khoảng 55% vào năm 2015 và mức 70,0% vào năm 2020. Trong đó, trước mắt vào năm 2015, trong tổng số lao động qua đào tạo sẽ có 77,0% tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề.

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, Tạp chí Tự động hóa ngày nay đã có cuộc trao đổi với TS.Phạm Xuân Khánh-Hiệu trưởng Trường CĐ nghề Công nghệ cao Hà Nội xung quanh vấn đề đang được xã hội quan tâm này.

TS.Phạm Xuân Khánh

PV: Theo ông hiện tại tình trạng lao động qua đào tạo vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội là do thiếu về số lượng hay chất lượng?

TS.Phạm Xuân Khánh: Việc thiếu ở đây được hiểu ở cả 2 góc độ. Thiếu về chất lượng một phần do cơ sở đào tạo nghề chưa đáp ứng được cơ cở vật chất, trang thiết bị dạy học, thiếu giáo viên hoặc chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu về đào tạo, chương trình đạo tạo chưa thực sự gắn liền với yêu cầu của các doanh nghiệp sử dụng lao động. Thiếu về số lượng, thực tế là các đơn vị tuyển dụng lao động không đánh giá cao lao động "hàn lâm" mà coi trọng lao động được đào tạo thực tế, có tay nghề, có kỹ năng. Nhu cầu tuyển dụng lao động được đào tạo thực tế hiện nay cũng như trong tương lai là rất lớn, tỷ lệ có việc làm sau khi ra trường rất cao. Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề, có tới trên 80% sinh viên cao đẳng nghề ra trường có việc làm ngay. Một số nghề “ăn khách”, tỉ lệ này đạt đến 90%. Hàn là nghề đứng đầu bảng với tỉ lệ 92,47% sinh viên ra trường tìm được việc làm ngay. Các nghề Công nghệ ôtô (90,1%), Cắt gọt kim loại (89,5%). Nghề điện công nghiệp đạt 87,38%. Một số nghề như May, Điện tử công nghiệp, Quản trị mạng máy tính, Kế toán doanh nghiệp... Sinh viên ra trường cũng rất dễ kiếm việc làm với thu nhập khá cao trong khi hiện tại tỷ lệ người theo học nghề lại rất thấp.

Hiện nay số lao động đã qua đào tạo phân bố không đồng đều theo nhu cầu xã hội. Nhiều trường tuyển sinh và đào tạo theo sự chủ quan của mình, rất nhiều người học thích theo học các nghề nhẹ nhàng như Kế toán, Quản trị kinh doanh, Ngân hàng, Tài chính, Tin học…, trong khi nhiều ngành nghề thiếu hụt lao động như các nghề Dệt may, Giày da, Nhựa, Bao bì, Điện, Điện tử, Viễn thông, CNTT, Cơ khí, Hàn, Luyện kim… đặc biệt thiếu hụt là lao động có tay nghề cao và các nghề công nghệ cao. Nhu cầu lao động về dịch vụ, du lịch, khách sạn, nhà hàng, marketing, bán hàng… cũng thiếu nhiều lao động.


PV: Những hạn chế trong đào tạo nghề hiện nay là gì, thưa ông?

TS.Phạm Xuân Khánh: Như trong câu hỏi trên, hạn chế đầu tiên thuộc về các cơ sở đào tạo nghề chưa đảm bảo đủ cơ cở vật chất, trang thiết bị dạy học, thiếu giáo viên hoặc chất lượng đội ngũ giáo viên chưa đạt chuẩn, chương trình đạo tạo chưa thực sự gắn liền với yêu cầu của các doanh nghiệp sử dụng lao động. Hạn chế tiếp theo thuộc về Quản lý nhà nước: Các cơ chế, chính sách, chế độ, cho người lao động qua đào tạo nghề, cho giáo viên dạy nghề còn nhiều bất cập, chế độ lương chưa phù hợp với công việc thực tế. Chưa thực hiện phân luồng người học do đó dẫn đến sự thiếu hụt người học. Một số nghề hiện tại chưa có qui định về việc sử dụng lao động qua đào tạo.  Chưa có cơ chế cụ thể ràng buộc các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm của mình trong đào tạo nghề.

Bên cạnh đó, tâm lý xã hội thích bằng cấp cho nên người học phần lớn đăng ký học đại học, bằng mọi giá để học đại học mặc dù học đại học ra trường gần 50% sinh viên không tìm được việc làm hoặc phải chuyển đổi nghề nghiệp. Nhiều ngành nghề thiếu hụt người học dẫn đến rất khó tổ chức đào tạo và gây ra sự mất cân đối về cơ cấu ngành nghề trong xã hội hiện nay.

PV: Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp lâu nay hạn chế nhưng vẫn chưa khắc phục được, vậy theo ông là tại sao?

TS.Phạm Xuân Khánh: Trước hết nói về mối quan hệ này ở các nước phát triển. Ví dụ ở nước Đức có đào tạo kép giữa nhà trường và doanh nghiệp, ở Úc có hệ thống đào tạo tại doanh nghiệp, sinh viên học lý thuyết tại trường nhưng học thực hành tại doanh nghiệp. Mối quan hệ này được thiết lập từ lâu tạo thành mối quan hệ hữu cơ và nhiều bên đều có lợi. Ở Việt Nam, mặc dù biết rõ hiệu quả của sự hợp tác này nhưng gần như sự mặn mà của mối quan hệ này còn rất khiêm tốn.

Ngoài cơ chế chính sách chưa rõ ràng thì chính sự chậm phát triển kinh tế xã hội ảnh hưởng đến nhu cầu việc làm là một hạn chế lớn. Khi có nhiều doanh nghiệp được thành lập, có nhiều việc làm và có thu nhập cao thì đương nhiên nhà trường phải lo đào tạo thế nào cho đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và doanh nghiệp cũng phải tự tìm đến nhà trường. Điều này giải thích vì sao địa phương nào có nhiều khu công nghiệp thì lao động qua đào tạo nghề đều được sử dụng hết.

Trong giai đoạn hiện nay nhà trường đang tìm mọi cách để tiếp cận doanh nghiệp, nhà nước đầu tư nhiều kinh phí, cơ sở đào tạo tiêu tốn nhiều nhân lực, vật lực, người học tiêu tốn thời gian, tiền bạc cho đào tạo nhưng khi học xong người học lại vất vả tìm việc, mất tiền để có việc làm là một vấn đề bất cập rất lớn của xã hội.

Phòng học Tự động hóa Trường CĐ nghề Công nghệ cao Hà Nội

PV: Vậy đào tạo nghề như thế nào được coi là thành công?

TS. Phạm Xuân Khánh: Trước hết phải coi Cơ sở đào tạo là doanh nghiệp mà sinh viên là sản phẩm. Khi nào mà sản phẩm có thể thương mại được thì có thể nói là đào tạo có hiệu quả. Có nghĩa là doanh nghiệp sử dụng lao động phải đóng góp chi phí đào tạo cho cơ sở đào tạo. Để có thể thương mại được thì sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp về cả số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, khi đó có thể nói là đào tạo thành công.


PV: Ngân sách Nhà nước ta dành cho đào tạo nghề là 0,5 GDP, trong khi các nước EU là 1,1% hoặc ở Đức có đến 80% người học nghề còn Việt Nam gần như ngược lại. Vậy có phải nước ta đang thiếu thực tế trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế-xã hội?

TS.Phạm Xuân Khánh: Vấn đề này thuộc về vĩ mô. Từ xa xưa, cha ông ta đã xác định và đề cao tầm quan trọng của đào tạo nghề nhưng nay do vận động của xã hội khiến người ta không coi trọng việc học nghề. Nhiều cơ quan tuyển dụng lao động yêu cầu trình độ đại học vì thực ra trong nhiều năm nay nguồn nhân lực được đào tạo trong xã hội chủ yếu là người học đại học. Có được tấm bằng đại học hiện nay đang là niềm tự hào của nhiều bậc phụ huynh, thậm chí là cả dòng họ. Vì thế dần dần học nghề mất dần vị thế, nhiều người học coi học nghề là sự lựa chọn cuối cùng. Trong khi xã hội phát triển được là nhờ lực lượng lao động. Ở các nước phát triển lực lượng lao động chiếm 80-90% qua đào tạo nghề nhưng Việt Nam đào tạo đại học đang chiếm 70-80% dẫn đến có sự mất cân đối về mặt xã hội. Quyết định 1216/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2015 có 77% lao động được qua đào tạo nghề nhưng hiện tại hệ thống đào tạo đại học có hơn 410 trường đại học cao đẳng (chưa tính các trường đại học trong đại học quốc gia, đại học vùng) gấp hơn 3 lần các trường cao đẳng nghề.


PV: Trường CĐ Công nghệ cao Hà Nội hiện nay đang thực hiện những biện pháp cơ bản nào nhằm nâng cao chất lượng đào tạo?

TS.Phạm Xuân Khánh: Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội được UBND Thành phố Hà Nội và Bộ LĐTB&XH, Tổng cục Dạy nghề quy hoạch đầu tư trọng điểm đạt chuẩn Quốc tế, trở thành trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao cho Thủ đô Hà Nội và khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, do đó nhà trường tập trung nâng cao chất lượng đào tạo bao gồm: hoàn thiện chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, bảo đảm linh hoạt, đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp; đầu tư mua sắm cơ sở vật chất, thiết bị theo hướng hiện đại vừa phục vụ giảng dạy vừa nghiên cứu sản xuất để tạo ra sản phẩm cho xã hội, tập trung đầu tư đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy, tiếng anh, tin học… để vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành, bảo đảm dạy tích hợp và dạy theo chương trình đào tạo quốc tế. Đồng thời chuẩn bị các điều kiện để giải quyết việc làm cho sinh viên khoá 1 ra trường thông qua Trung tâm Quan hệ Doanh nghiệp. Nhà trường hiện đã có mối quan hệ với hơn 100 doanh nghiệp và các sinh viên khoá 1 các ngành như Cơ khí, Điện - Điện tử, Hàn đã được các doanh nghiệp đặt hàng. Nhà trường đặt quyết tâm 100% sinh viên đạt chuẩn đầu ra đều có việc làm.

Quan điểm của nhà trường trong giai đoạn hiện nay không chú trọng số lượng mà chú trọng chất lượng đào tạo, tiên phong trong đào tạo nghề chất lượng cao và giải quyết việc làm trong đó có đào tạo xuất khẩu lao động kỹ thuật sang thị trường Nhật Bản.


PV: Nếu đề xuất biện pháp đột phá trong đào tạo nghề hiện nay, ông sẽ đề xuất như thế nào?

TS.Phạm Xuân Khánh: Ngày 29/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 630 QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020. Trong đó đã: xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội.

Quyết định cũng nêu rõ 9 giải pháp phát triển dạy nghề bao gồm: xây dựng khung trình độ nghề quốc gia; đổi mới quản lý nhà nước về dạy nghề; quy hoạch, phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề; đảm bảo chất lượng dạy nghề; kiểm soát chất lượng dạy nghề; gắn kết giữa dạy nghề với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp; huy động nguồn lực đầu tư cho dạy nghề; nâng cao nhận thức về phát triển dạy nghề; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về dạy nghề.

Thực hiện đồng bộ được 9 giải pháp đó bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.

PV: Cảm ơn ông về những chia sẻ trên và nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 chúc ông và nhà trường thành công trong sự nghiệp giáo dục!
Trà Giang (thực hiện)

Số 143 (11/2012)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật