Trang chủ Diễn đàn KC.03 khảng định vai trò ngành Tự động hóa Việt Nam

KC.03 khảng định vai trò ngành Tự động hóa Việt Nam

Là một trong những chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước, chương trình “Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ tự động hóa” giai đoạn 2006-2010 (KC.03/06-10) đã góp phần chứng tỏ được vai trò, vị thế của mình trong việc thúc đẩy phát triển nền KH&CN nước nhà.

Được triển khai trong bối cảnh Bộ KH&CN có những đổi mới trong quản lý các đề tài, dự án, nhiệm vụ KHCN nhưng chương trình KC.03/60-10 gặp không ít khó khăn về thời gian thực hiện ít, cơ chế xác định nhiệm vụ, cơ chế xét chọn, tuyển chọn còn nhiều bất cập, việc xây dựng triển khai các dự án sản xuất thử nghiệm (SXTN) gặp rất nhiều khó khăn… Mặc dù vậy, trong hơn 3 năm thực hiện, chương trình KC.03/60-10 đã có 26 đề tài, dự án SXTN được Bộ KH&CN ra quyết định trúng tuyển, tuy nhiên thực tế chỉ có 24 đề tài được triển khai thực hiện. Đến nay, toàn bộ Chương trình đã tạo ra được trên 80 chủng loại sản phẩm dạng máy móc, thiết bị và hệ thống tự động hóa (TĐH). Bên cạnh đó, Chương trình KC.03 có 58 bài báo và các báo cáo khoa học được công bố trên các diễn đàn khoa học có uy tín, trong đó có 17 bài báo và các báo cáo khoa học được công bố ở nước ngoài. Có 18 đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích, hỗ trợ đào tạo được 23 thạc sỹ, đang hỗ trợ đào tạo 17 tiến sỹ.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia và nhà khoa học, các kết quả nghiên cứu của Chương trình đã có những đóng góp lớn đối với sản xuất, đời sống và việc nâng cao tiềm lực KHCN của ngành TĐH. Một số đề tài đã chứng tỏ được giá trị thực tiễn trực tiếp thông qua việc chuyển giao ứng dụng hoặc thương mại hóa như: Hệ thống tự động giám sát SCADA phục vụ an toàn lao động trong khai thác hầm lò với các máy tự động đo nồng độ khí metan, khí CO2 ,…do dự án SXTN KC.03.DA02/60-10 thiết kế chế tạo đã được áp dụng rộng rãi trong ngành khai thác hầm lò của Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam; Hệ thống TĐH giám sát video và điều khiển từ xa trên cơ sở công nghệ cao có sử dụng Linux được Bộ GTVT quyết định chỉ định thầu cho việc áp dụng hệ thống này phục vụ giám sát và điều hành giao thông đường bộ tuyến Cầu Giẽ - Ninh Bình. Bên cạnh đó, một loạt các kết quả nghiên cứu đang được áp dụng (hoặc đang trong giai đoạn áp dụng thử) có khả năng mở rộng ứng dụng trong thời gian tới, hứa hẹn đem lại hiệu quả cao về mặt kinh tế - xã hội như: Các thiết bị và hệ thống dẫn đường, hỗ trợ tránh bão cho tàu thuyền trên biển của đề tài KC.03.04/06-10; các kết quả nghiên cứu về hệ thống giao thông thông minh ITS của đề tài KC.03.05/06-10; hệ thống Robot hàn tự hành, sản phẩm của đề tài KC.03.06/06-10… Các sản phẩm, thiết bị này đều được nghiên cứu, thiết kế trên cơ sở linh kiện công nghệ mới, đạt các chỉ tiêu kỹ thuật tương đương sản phẩm cùng loại của các nước tiên tiến, với giá thành khoảng 40-70% giá nhập ngoại. Ngoài các chức năng tương tự với sản phẩm cùng loại của nước ngoài, đặc biệt các hệ thống thiết bị này còn có những chức năng và tính năng mới phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Ngoài ra, KC.03/06-10 còn có một số sản phẩm mang tính nghiên cứu tiếp cận làm chủ công nghệ cao, làm cơ sở cho phát triển các nghiên cứu ứng dụng ở giai đoạn tiếp theo như:  Mẫu robot sinh học trợ lực cho người đi bộ; Robotsong song Hexapod áp dụng trong gia công cắt gọt, tạo hình bề mặt phức tạp; Hệ thống TĐH thông minh sử dụng giao tiếp người - máy bằng tiếng nói.
Trong giai đoạn tiếp theo (2011 - 2015), Chương trình KC.03 sẽ tiếp tục nghiên cứu thiết kế chế tạo các thiết bị và hệ thống TĐH khai thác biển đảo phục vụ chiến lược Biển Đông của Đảng và Nhà nước. Tiếp tục nghiên cứu thiết kế chế tạo các hệ thống TĐH đồng bộ, trọn bộ cho các lĩnh vực sản xuất quan trọng. Đồng thời nghiên cứu tiếp cận các hướng mới, công nghệ cao trong TĐH.
Tự đông hóa ngày nay xin trích ý kiến đánh giá của một số nhà khoa học nhân dịp tổng kết 5 năm hoạt động Chương trình KC.03 (2006-2010)

GS.TSKH.Cao Tiến Huỳnh - Chủ nhiệm Chương trình KC.03: Trong 5 năm vừa rồi, Chương trình KC.03/06-10 đã tập trung đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật liên quan đến lĩnh vực công nghệ TĐH trong toàn quốc để triển khai thực hiện những nội dung rất bức xúc của thực tiễn đặt ra, đòi hỏi phải ứng dụng công nghệ TĐH hiện đại mới có thể giải quyết thành công và mang lại hiệu quả trong thực tế. Nỗi trăn trở của các nhà khoa học là làm gì để phát huy vai trò quan trọng của lĩnh vực công nghệ TĐH phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?
Bài học lớn nhất có thể rút ra từ đây là phải có định hướng đúng đắn và phải biết chọn đối tượng để áp dụng công nghệ TĐH một cách đúng đắn thì mới có thể sớm mang lại hiệu quả. Trong quá trình ứng dụng phải áp dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ TĐH bao gồm cả phương pháp, phương tiện, hệ thống và công nghệ. Tất cả những vấn đề đó được các cán bộ nghiên cứu thuộc lĩnh vực của chúng ta và các lĩnh vực có liên quan kết hợp chặt chẽ tập trung trí tuệ nghiên cứu và có chiều sâu sát với thực tế, sát với đối tượng phục vụ thì mới có thể tạo ra được sản phẩm cạnh tranh được với các hệ thống hiện đại của các nước tiên tiến và giải quyết được những vấn đề của thực tế Việt Nam. Những vấn đề đó Việt Nam phải giải quyết chứ không phải các hãng nước ngoài hay các chuyên gia nước ngoài. Đồng thời phải kết hợp rất chặt chẽ với đơn vị sử dụng để từ đó mới nắm bắt được những điểm đặc thù mà công nghệ TĐH phải “cấy” vào đó mới phát huy được hiệu quả và có giá trị ứng dụng thiết thực.
Trong vấn đề chọn đối tượng để áp dụng phải ưu tiên những lĩnh vực mũi nhọn của đất nước. ví dụ như tập trung giải quyết các vấn đề phục vụ cho chiến lược Biển Đông, khai thác và bảo vệ Biển Đông. Đó là một trong những nhiệm vụ hết sức trọng yếu của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tiếp theo. Phải nói rằng trong mảng rất lớn các vấn đề đó Trong các đề tài thuộc lĩnh vực đó Chương trình đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng, nhân rộng và phát triển tiếp theo.
Vấn đề mấu chốt của chúng ta là phải ứng dụng những công nghệ cao nhất, những thành tựu mới nhất bởi vì nếu không sản phẩm làm ra sẽ nhanh chóng lạc hậu không thể cạnh tranh và phục vụ hiệu quả được. Đây cũng là điều tôi rất tâm đắc muốn trao đổi với các nhà khoa học thuộc lĩnh vực TĐH để chúng ta cùng chia sẻ kinh nghiệm quý báu, cùng tập trung ý chí, tập trung sức lực mới có thể thực hiện được.

Ông Trịnh Đình Đề - PCT Hội Tự động hóa Việt Nam:
Chương trình KHCN về tự động hóa đã triển khai được 25 năm kể từ chương trình TĐH 52 B (1986) đến nay là KC.03. Chương trình đã góp phần vào nghiên cứu, đào tạo và triển khai KHCN TĐH vào trong sản xuất, nâng vị thế của TĐH và được xã hội thừa nhận: TĐH là bộ phận không thể thiếu được trong cuộc sống con người và nhất là trong sản xuất, kinh doanh.
Thực tế hiện nay các dây chuyền sản xuất hiện đại chiếm vai trò chính  về sản xuất hàng hoá - nòng  cốt đảm bảo tăng trưởng GDP hàng năm đều do các hệ thống TĐH chi phối. Nếu bộ não TĐH của dây chuyền này ngừng hoạt động thìdây chuyền kia cũng ngừng làm ra sản phẩm. Như vậy TĐH đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân. Song về cơ bản TĐH hiện nay vẫn còn là sản phẩm vay mượn của nước ngoài. Cho nên Chương trình TĐH cần phải  tư vấn để Nhà nước hình thành chiến lược phát triển TĐH của Việt Nam. Phải gắn phát triển TĐH với việc tăng trưởng GDP một cách thực sự. Làm sao để TĐH cùng với CNTT-TT tạo ra sản phẩm phần mềm công nghiệp làm cơ sở thúc đẩy các ngành điện tử, cơ điện tử cùng vào cuộc để phát triển phần cứng phục vụ thị trường công nghệ Việt Nam. Trong số 460.000 doanh nghiệp hiện nay thì có hàng chục ngàn doanh nghiệp trực tiếp làm ra sản phẩm quốc nội cần TĐH.
Bằng cách phát triển TĐH mạnh mẽ chúng ta có thể chuyển sang thực hiện công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực công nghệ cao mang lại hiệu quả hơn nhiều so với các ngành công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực cơ khí (mà hiện nay đang tìm cách triển khai) do ta có lợi thế trong lĩnh vực này. Chủ động để phát triển công nghệ TĐH VN trong tương lai sẽ góp lợi thế cho VN tham gia vào nền kinh tế tri thức

Ông Đỗ Xuân Nên - Chuyên viên chính - Bộ KH&CN:
Trước hết phải khẳng định rằng Chương trình TĐH đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của nền kinh tế. Nhiều đề tài được triển khai nghiên cứu, đã nghiệm thu và được ứng dụng vào thực tế sản xuất, góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình KC.03 đã đạt được các chỉ tiêu của Nhà nước đề ra và chiến lược phát triển TĐH giai đoạn 2006 - 2010 và tầm nhìn 2020. Hiện tại, Bộ KH&CN đang tiếp tục xây dựng Chương trình phát triển ngành TĐH và có thể sẽ ghép với Chương trình phát triển ngành Cơ khí. Bởi vì, hiện nay giữa TĐH với Cơ khí có mối liên hệ rất khăng khít với nhau, hỗ trợ cho nhau phát triển. Chúng tôi đang xây dựng định hướng nghiên cứu không phải chỉ cho TĐH mà còn cả các chương trình khác và đang chờ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét. Tất nhiên chương trình KC.03 vẫn phải tiếp tục phát triển thì mới nâng cao được hiệu quả kinh tế, chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, và giảm nhân công lao động.

TS. Phan Xuân Minh - Đại học Bách khoa Hà Nội
Trước hết phải khẳng định rằng Chương trình KC.03 của Nhà nước đã cổ vũ các nhà khoa học ở các Viện, các trường đại học tham gia nghiên cứu làm ra các sản phẩm công nghệ cao. Trong giai đoạn vừa qua, việc lựa chọn đề tài cũng như thực hiện đề tài rất tốt,  và hầu hết có sản phẩm. Tuy có một vài nhược điểm nhưng Chương trình đóng góp rất lớn vào việc tham gia đào tạo nâng cao chất lượng cho thế hệ trẻ như kỹ sư, thạc sỹ, tiến sỹ. Bên cạnh đó cũng cần phải nói đến những cái chưa đạt của KC.03, thứ nhất là không tổ chức được chương trình TĐH toàn quốc như những chương trình khác, do đó mất đi tính phổ cập, tính giao lưu, các sản phẩm không giới thiệu được với những người cùng làm nghiên cứu để họ có thể đóng góp những ý tưởng giúp cho sản phẩm đề tài được tốt hơn. Thứ hai, các sản phẩm của KC.03 chưa gắn với công nghiệp Việt Nam nên hầu hết định hướng nghiên cứu các công nghệ mới, kỹ thuật tiên tiến nhưng chưa chú trọng đến việc sản phẩm có thể được dùng trong công nghiệp hay không, tức là tiêu chuẩn so sánh đánh giá công nghệ của mình so với nước ngoài vẫn mang tính chất hơi hình thức, nước ngoài làm được thì ta cũng làm được vì thế không tạo ra được thị trường cạnh tranh để giúp cho chúng ta có thể đưa được những sản phẩm công nghệ cao của mình ngang hàng với quốc tế. Cũng có thể chúng ta chú trọng vào nghiên cứu mà chưa đạt được vấn đề đó, ở một chứng mực nào đó, một khía cạnh nào đó, nghiên cứu đó lại là lãng phí.
Hiệu quả của nghiên cứu ngoài các bài báo được công bố thì nó còn phải tham gia ứng dụng vào thị trường công nghiệp, hy vọng các chương trình mới sẽ được thúc đẩy hơn vấn đề này, có sự liên kết giữa việc chế tạo của nước ta so sánh cạnh tranh với các sản phẩm nước ngoài để dần dần các sản phẩm công nghệ cao của ta có thể thay thế được các sản phẩm công nghệ cao của nước ngoài. Điều đó cũng hình thành nên một nền công nghiệp chế tạo thiết bị của Việt Nam “khỏe” và có thể cạnh tranh được với nước ngoài.
Một đóng góp nhỏ nữa cho KC.03 là thực ra trong các chương trình nghiên cứu có những nghiên cứu thành chương trình nhưng có những nghiên cứu là sản phẩm trí tuệ rất cần và làm tăng uy tín của khoa học kỹ thuật TĐH Việt Nam (ví dụ như những bài báo có khả năng công bố trên những tạp chí thế giới) thì đến nay chưa có sự hỗ trợ nào cho các nhà khoa học có thể đăng được kết quả nghiên cứu trên tạp chí thế giới.  Nên nếu hỗ trợ nghiên cứu để chúng ta được đánh giá cao ở tầm quốc tế thì phải có các bài báo được công bố. Vì vậy, trong chương trình mới nên có Quỹ để hỗ trợ cho các nhà khoa học có thể ghi danh trên các tạp chí thế giới. Như thế những nghiên cứu của KC.03 sẽ có giá trị hơn về mặt lý luận khoa học công nghệ và sẽ nhận được hưởng ứng của nhiều nhà khoa học trong nước hơn.

Số 123 (1+2/2011)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật