Trang chủ Diễn đàn KH & CN phải có sản phẩm khoa học xứng đáng

KH & CN phải có sản phẩm khoa học xứng đáng

Thanh hà
Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước ở Việt Nam (năm 1959), đến nay ngành đã tròn 50 năm tuổi. Trong 50 năm qua, với những thăng trầm của lịch sử, ngành đã đóng góp quan trọng vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Nguyễn Quân cho rằng, các cơ chế, chính sách liên quan đến KH&CN thời gian qua đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, đó là “bệ phóng” vững chắc đưa ngành hội nhập mạnh mẽ, ngang tầm với quốc tế, góp phần đưa đất nước vào công cuộc CNH - HĐH.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân

PV: Thưa ông, ngành KH&CN thời gian qua đã có những đóng góp như thế nào vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước?
Tt. Nguyễn Quân: Đóng góp của ngành trong sự nghiệp xây dựng đất nước là rất to lớn. Trong tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội, KH&CN đã có những đóng góp rất lớn và nhiều người cũng nói rằng KH&CN đã đóng góp trên dưới 30% GDP cho đất nước. Đó là sự đóng góp vô hình, dạng tiềm năng, nhưng có thể nói nếu không có KH&CN thì chắc chắn chúng ta không thể có được những chuyển biến mạnh mẽ của kinh tế xã hội đất nước, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Chúng tôi cũng cho rằng, trong 5 năm gần đây ngành đã cơ bản hoàn thiện được nền tảng pháp lý và hành lang pháp lý cho KH&CN bằng việc trình Quốc hội thông qua 7 luật cơ bản. Năm 2000, Quốc hội đã thông qua Luật KH&CN, đây là luật đầu tiên về lĩnh vực KH&CN. Liên tục từ năm 2005 đến nay, Quốc hội đã ban hành 6 luật quan trọng, như Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, tạo tiền đề cho nước ta hội nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sau đó là Luật Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng sản phẩm hàng hoá. Riêng trong năm 2008, Quốc hội đã phê chuẩn hai luật quan trọng là Luật Công nghệ cao, Luật Năng lượng Nguyên tử. Hai luật này rất đặc thù, chuyên sâu và rất khó. Trên thế giới, rất ít quốc gia xây dựng được Luật Năng lượng Nguyên tử. Việt Nam cũng là một trong số ít nước có Luật Công nghệ cao, mặc dù hiện nay vấn đề công nghệ cao ở nước ta xuất phát điểm và điều kiện phát triển còn rất thấp. Luật Công nghệ cao được Quốc hội thông qua, đánh đấu một bước phát triển mới của ngành KH&CN ở Việt Nam. Như vậy, tới thời điểm này, có thể nhận định, nền tảng pháp lý về KH&CN đã cơ bản được ban hành. Trong những năm tới, ngành sẽ đẩy mạnh việc ban hành các văn bản dưới luật và hướng dẫn luật. Với 7 luật được ban hành, sẽ có hàng loạt các nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn để các luật đi vào cuộc sống. Lúc đó, ngành KH&CN Việt Nam sẽ có được một “bệ phóng”, đi vào kỷ nguyên kinh tế tri thức, phát triển thành một nước công nghiệp hoá.
PV: Những gì mà ngành đã làm được, theo ông đã có thể đáp ứng được yêu cầu của hội nhập nền kinh tế quốc tế?
Tt. Nguyễn Quân: Về cơ bản, chúng ta đã đạt được những mức mà nền kinh tế thế giới yêu cầu. Bởi vì, để hoà nhập vào WTO, một sân chơi lớn của thế giới, chúng ta phải có những thể chế, những quy định, phù hợp mức mà thế giới chấp nhận được. Ví dụ như Luật Sở hữu trí tuệ, nếu chúng ta không có luật này, mà không bảo hộ quyền của các doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài với mức tương đương của các nước phát triển thì chắc chắn chúng ta không được chấp nhận. Về tiêu chuẩn, nếu như các tiêu chuẩn về hàng hoá mà chúng ta không có các quy định phù hợp với WTO, thì các quốc gia lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản sẽ không chấp nhận cho nước ta xuất khẩu hàng hoá sang nước họ. Các chính sách về thuế và doanh nghiệp cũng như vậy, chúng ta chơi cùng một sân chơi lớn thì các chính sách của chúng ta phải tương đồng với thế giới. 
Có thể nói, trong lĩnh vực KH&CN, những chuẩn mực của chúng ta phần lớn tương đương với thế giới. Ví dụ về Tiêu chuẩn Việt Nam, sau khi Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được ban hành, Bộ KH&CN đã yêu cầu các cơ quan làm tiêu chuẩn Việt Nam chuyển đổi các tiêu chuẩn trước đây và đến nay có khoảng 30% các tiêu chuẩn, quy chuẩn trước đây đã được điều chỉnh lại, phù hợp với tiêu chuẩn của thế giới.
PV: Ngày càng có những văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực ngành được đưa ra thì càng thấy có những vụ việc liên quan đến ngành được phát hiện, thậm chí có những vụ việc rất phức tạp, ông nhận định gì về điều ấy?

 

Tt. Nguyễn Quân: Trước đây chúng ta chưa có các quy định, cũng như chưa quan tâm đến các chuẩn mực vì lúc đó mức độ hội nhập của chúng ta chưa mạnh, chưa hội nhập AFTA, WTO, APEC, thậm chí trước năm 1995 chúng ta chưa gia nhập tổ chức ASEAN. Khi đó, chúng ta chơi một mình một sân, những vấn đề mà ngày nay nổi lên và trở thành bức xúc, phức tạp, gây tranh chấp, trước đây chúng ta chưa cảm nhận được. Hiện nay, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, là thành viên của nhiều tổ chức lớn trên thế giới, chúng ta tham khảo các chuẩn mực của thế giới để ban hành các quy định của mình, phù hợp với xu hướng của thế giới, như vậy, các hạn chế mới bộc lộ. Tương tự như vậy, nếu chúng ta không có cơ quan chống tham nhũng, các chương trình chống tham nhũng thì chắc chắn sẽ không nhìn thấy bức tranh thật về chống tham nhũng. Cũng trong vấn đề này, tôi có quan điểm rằng, chính vì chúng ta có các cơ chế, chính sách, nên càng thực hiện thì lại càng thấy rõ những điều mà ai cũng tưởng “không có vấn đề” thì nay lại là “có vấn đề”. Cũng như khi Đảng và Nhà nước tập trung vào chống tham nhũng, có một cơ quan riêng, lúc đó chúng ta mới phát hiện, xử lý quyết liệt các vụ việc liên quan đến tham nhũng. Trong ngành khoa học cũng vậy, nếu không sử dụng những tiêu chuẩn phù hợp với thế giới, quyền sở hữu trí tuệ không được bảo hộ thì chắc chắn sẽ không thấy các vấn đề nổi cộm. Hiện nay, chúng ta hội nhập, có luật về Sở hữu trí tuệ, các doanh nghiệp đụng đến vấn đề tranh chấp về bản quyền, nhãn hiệu, tên thương mại… như vậy, không có nghĩa là chúng ta càng làm càng thấy sai, mà là càng làm càng phát hiện ra nhiều những điều không đúng và chúng ta xử lý nó để xã hội được tốt hơn. 
PV: Như vậy các cơ quan thực thi về chính sách KH&CN sẽ phải nâng cao năng lực hơn nữa để thích ứng, phục vụ các nhu cầu hội nhập của xã hội đúng không ông?
Tt. Nguyễn Quân: Chắc chắn các cơ quan trong ngành sẽ phải cố gắng hơn rất nhiều, vì Đảng và Nhà nước ta đã coi KH&CN là quốc sách hàng đầu. Sự đầu tư của Nhà nước cho KH&CN là rất lớn, đạt ngưỡng 2% tổng chi ngân sách và Việt Nam đã đứng trong tốp đầu của thế giới về tỷ lệ chi từ ngân sách đầu tư cho KH&CN. Tuy nhiên, tỷ lệ này chỉ cao về giá trị tương đối, nhưng về giá trị tuyệt đối còn rất nhỏ, vì nước ta còn nghèo, GDP vẫn còn thấp, lại chưa xã hội hoá được đầu tư cho KH&CN, đầu tư cho KH&CN đến nay vẫn chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước. Mong rằng, các chính sách của Nhà nước sẽ khuyến khích để xã hội đầu tư cho KH&CN được nhiều hơn. Ở nước ta trung bình mới đầu tư khoảng 5USD/đầu người cho KH&CN, mức rất thấp so với các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản. Cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam, khi hội nhập quốc tế cần phải nâng tầm của mình lên tương xứng với quốc tế. Chính phủ tạo cơ hội bằng cách cho phép các tổ chức KH&CN tự chủ về tất cả các mặt, về biên chế, tổ chức, tài chính… kể cả việc cho phép họ trực tiếp sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp, tạo điều kiện để cho họ đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh bằng con đường ngắn nhất và thuận lợi nhất. Nhưng đồng thời, Nhà nước cũng đòi hỏi các tổ chức KH&CN phải có các sản phẩm khoa học xứng đáng với sự đầu tư của Nhà nước và xã hội. Bộ cũng đã trình Chính phủ các chương trình KH&CN trọng điểm. Trong chương trình này xây dựng được mục tiêu, dự kiến sau một giai đoạn nhất định các chương trình KH&CN phải có đóng góp đáng kể và được xã hội thừa nhận. Bộ cũng tăng cường tiềm lực cho các tổ chức KH&CN, bằng sử dụng ngân sách đầu tư cho các phòng thì nghiệm trọng điểm. Ngoài ra cũng tăng cường mạng lưới cán bộ quản lý KH&CN ở cấp địa phương….Tất cả những việc làm đó nhằm mục tiêu đưa KH&CN nước ta hội nhập quốc tế.
PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng!

Số 101 (1+2/2009)♦Tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật