Trang chủ Diễn đàn Nhân lực KH và CN Việt Nam thời kỳ dân số vàng có kịp làm giàu trước khi già?

Nhân lực KH và CN Việt Nam thời kỳ dân số vàng có kịp làm giàu trước khi già?

Việt Nam hiện nay có niềm tự hào lớn vì đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng” (DSV), với tỷ lệ hơn 62 triệu người trong độ tuổi lao động (chiếm 69% dân số). Tuy nhiên, cơ cấu DSV chỉ tồn tại từ 30 - 40 năm tùy thuộc vào mức độ kiểm soát của mỗi quốc gia. Do đó, khi bàn về vấn đề Phát triển nguồn nhân lực KH và CN phục vụ CNH - HĐH trong điều kiện dân số vàng ở Việt Nam (Hội thảo do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp tổ chức cùng Liên hiệp các Hội KH và KT Việt Nam-VUSTA), các nhà quản lý cũng như nhà khoa học lại đang tỏ ra nhiều quan ngại. Liệu nguồn nhân lực KH và CN trong thời kỳ này có kịp làm giàu cho đất nước trước khi già? Có giúp Việt Nam tránh được bẫy của thu nhập trung bình,…?

Vàng về số lượng

Việt Nam cùng với mốc chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số” trong năm 2011 và sự kiện chào đón công dân thứ 90 triệu người vào ngày 01/11/2013 đã trở thành cường quốc về quy mô dân số trên thế giới (đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á). Hơn 62 triệu người trong độ tuổi lao động chắc hẳn cũng sẽ có triển vọng cho nguồn nhân lực KH và CN của nước nhà. Đặc biệt trong bối cảnh các chủ trương và chính sách cho phát triển KH và CN ngày càng được chú trọng.

Rất nhiều đại biểu tham gia Hội thảo trăn trở về hiện trạng nguồn nhân lực KH và CN hiện nay ở Việt Nam và mong muốn có sự đột phá trong chính sách để có thể tận dụng thời kỳ DSV

Trên thực tế, đội ngũ làm KH và CN cũng như các tổ chức hoạt động KH và CN ở Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010 đã tăng gấp 3 lần. Theo thống kê của Bộ KH và CN, vào năm 2010 cả nước có 1.513 tổ chức KH và CN, số người làm về nghiên cứu phát triển khoa học có 60.543 người trên các lĩnh vực. Đến nay con số này hẳn đã tăng đáng kể do nhu cầu về KH và CN trong đời sống xã hội ngày càng tăng.

Ths. Lê Văn Dụy người chuyên nghiên cứu về nhân khẩu học và thống kê học dẫn số liệu cho thấy: nếu như tổng điều tra dân số năm 1999 cho thấy chỉ có khoảng 1,5 triệu người có trình độ CĐ, ĐH trở lên thì năm 2009 đã tăng lên 3,7 triệu người. Việt Nam hiện có gần 600 trường CĐ, ĐH, có hàng vạn sinh viên theo học và nếu các cán bộ giảng dạy tích cực tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) thì đội ngũ cán bộ khoa học còn đông đảo hơn. Cùng với đội ngũ các nhà khoa học chuyên nghiệp R&D, đội ngũ cán bộ giảng dạy, đội ngũ khoa học trong các Labo ở doanh nghiệp trong thời gian tới nếu tập trung cho hoạt động KH và CN sẽ tạo ra một con số dồi dào.

Ngoài ra, cũng theo ông Dụy còn có đội ngũ những nhà khoa học được đào tạo từ nước ngoài về sẽ cải thiện hoạt động NCKH trong nước.

Xét trên tổng thể, Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập nên KH và CN cũng cần hội nhập, năng lực và trình độ cán bộ làm khoa học cũng cần nâng cao. Cơ cấu DSV cũng là điều kiện thuận lợi để con người có điều kiện phát triển về mọi mặt nên sẽ là triển vọng cho nhân lực KH và CN của nước nhà.

… chưa vàng về chất lượng

TS. Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục dân số - Kế hoạch hóa gia đình đưa ra một thống kê khảo sát về trình độ học vấn của các quốc gia trong khu vực châu Á vào năm 2009: Trong khi học vấn bậc trung ở Nhật Bản là 43,9%, Hàn Quốc là 40,4%, Singgapore là 39,2% và Philippine là 26,4% thì Việt Nam chỉ có 18,9%. Học vấn ở bậc cao tại Nhật Bản là 30%, Hàn Quốc 23,4%, Singapore là 19,6%, Philippine là 8,4% thì Việt Nam chỉ có 5,4% . Theo đổng điều tra dân số vào năm 2009 cho thấy số người trên 15 tuổi được đào tạo chuyên môn kỹ thuật chỉ có 13,4%. Thực tế này đang trở thành thách thức lớn cho nguồn nhân lực KH và CN trong thời gian tới.

Bàn về nhân lực cho KH và CN phục vụ CNH - HĐH đất nước trong thời kỳ DSV, nhiều đại biểu đã không ngần ngại nói lên hiện trạng nguồn nhân lực KH và CN hiện nay ở nước ta.

PGS.TS Hồ Uy Liêm, nguyên quyền Chủ tịch VUSTA đặt vấn đề: Hiện trạng nguồn nhân lực KH và CN có đảm bảo tận dụng cơ cấu DSV?. GS Liêm phân tích: Cơ cấu DSV đồng nghĩa với sự tập trung của một lực lượng lao động trẻ hùng hậu chưa từng có và tỷ lệ những người được đào tạo qua trình độ CĐ, ĐH, trên ĐH sẽ gia tăng đáng kể. Vấn đề là chúng ta có tận dụng được cơ hội DSV để phát triển hay không khi mà hiện trạng nguồn nhân lực KH và CN hiện nay hầu như ai cũng đã rõ. Để minh họa rõ hơn giáo sư nêu ra những con số như: nhân lực đầu vào cho KH và CN Việt Nam hiện nay là khoảng 200 đến 220 sinh viên/vạn dân, trong khi đó ở Malaysia, Thái Lan, Philippine là 400-500, ở Hàn Quốc và Singapore là 500-600. Ngoài ra, các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay có lực lượng chuyên gia đáng kể nhưng phần lớn chỉ tập trung vào việc lên lớp chứ không quan tâm nhiều đến NCKH, đa số coi đó là việc làm thêm, dó đó thành tựu khoa học ở các trường ĐH của ta quá khiêm tốn. Ngân sách đầu tư cho KH và CN ở nước ta hiện nay còn khiêm tốn - 2% ngân sách Nhà nước. Việt Nam có hai cơ quan NCKH lớn nhất nước là Viện hàn lâm KH và CN Việt Nam và Viện hàn làm KH Xã hội và Nhân văn nhưng sản phẩm khoa học lại không tương xứng với tầm cỡ của các viện hàn lâm cũng như quy mô của toàn hệ thống.

Có một thực tế hiện nay nữa là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam hiện nay đang đang chủ yếu sử dụng công nghệ của Trung Quốc. 90% các công trình chìa khóa trao tay (EPC) của Việt Nam đều rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc,… Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết, chiến lược cho phát triển KH và CN, luôn khẳng định KH và CN có vai trò then chốt trong phát triển kinh tế xã hội và có đầu tư nhiều mặt cho KH và CN nhưng xem ra KH và CN của nước ta vẫn chưa đáp ứng được mong đợi và đang tụt hậu so với khu vực.

TS.Vũ Đình Ánh đến từ Học viện Tài chính cho rằng cơ cấu DSV đang đặt ra thách thức cho Việt Nam về giải quyết việc làm, trong khi lực lượng lao động tại Việt Nam mặc dù đông nhưng lại thiếu lao động có tay nghề chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. Đối với quy mô, cơ cấu, chất lượng nhân lực KH và CN, TS Vũ Đình Ánh quan ngại về vấn đề tiêu chí xác định nhân lực cho KH và CN. Ông thẳng thắn, riêng trong lĩnh vực khoa học kinh tế (tại các cơ quan Nhà nước) đang có vấn đề ngay từ đầu vào. Ai không vào được các bộ phận khác sẽ vào cơ quan nghiên cứu. Các viện, trường khi xét đầu vào thì cần các tiêu chuẩn về học hàm, học vị, vốn tiếng Anh. Theo TS Ánh, những tiêu chí đó đúng nhưng chưa đủ, thiếu thực tế và chưa phản ánh đúng chất lượng nguồn nhân lực, do đó cần có các tiêu chí hợp lý hơn để xét chọn và đánh giá nguồn nhân lực cho KH và CN.

Ngoài ra, TS.Vũ Đình Ánh cũng đề cập đến vấn đề trọng dụng nhân lực KH và CN. Theo ông, nếu vẫn còn tình trạng coi khoa học có cũng được không có cũng được, khoa học như thứ để trang trí thì cũng khó mà coi trọng công sức của các nhà khoa học bỏ ra. Lý do đầu tiên để đề tài cất ngăn kéo không phải lỗi của người nghiên cứu mà là lỗi của người đặt hàng, đặt hàng xong không biết nhà khoa học làm như thế nào và kết thúc đề tài lại giao cho một hội đồng khác ngồi nghiệm thu. Kết quả xuất sắc, tốt nhưng… lại cất ngăn kéo.

GS. Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức còn tỏ ra bi quan hơn khi ông khẳng định: Cơ cấu DSV ở Việt Nam đang trở thành thách thức nhiều hơn cơ hội và trong vòng 10 năm tới chưa có niềm tin về cơ hội cho DSV với 2 lý do: Một là nền kinh tế quốc dân phải tạo được công ăn việc làm cho DSV. Hai là lao động trẻ phải có tay nghề cao và có lương tâm. GS. Chu Hảo thẳng thắn đề nghị Ban Kinh tế Trung ương nên đặt vấn đề nghiêm túc xem cơ cấu DSV sẽ mang lại cơ hội và thách thức nào. Đồng thời ông cũng cho rằng, không có nền khoa học nào phát triển được trên nền giáo dục đang “lạc đường”. Do đó, cần thực hiện nghiêm túc Nghị quyết TW 8 về Giáo dục, trong đó chú trọng đến lực lượng công nhân tay nghề kỹ thuật cao và tay nghề giỏi - lực lượng anh hùng ẩn danh của nền kinh tế.

Về vấn giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho KH và CN, GS.TSKH Nguyễn Quang Thái - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng ngoài các giải pháp ban hành về chính sách phát triển nguồn nhân lực KH và CN thì vấn đề cấp bách hiện nay là tạo môi trường, điều kiện làm việc tốt nhất cho các nhà khoa học (đãi ngộ tinh thần, vật chất, trọng dụng, bảo vệ nhân tài).

Tạo cơ hội bình đẳng giới trong hoạt động NCKH cũng là điều được nhấn mạnh tại hội nghị. GS.TSKH. Phạm Thị Trân Châu, Chủ tịch Hội nữ trí thức Việt Nam khẳng định để đạt được mục tiêu về nguồn nhân lực chất lượng phục vụ tốt cho CNH - HĐH đất nước, nguồn nhân lực nữ cần được xem trọng đúng mức. Cần có chính sách thiết thực để thực hiện bình đẳng giới về quyền lợi và cơ hội trong hoạt động KH và CN.

Theo các nhà khoa học dự báo thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già tại Việt Nam sẽ rất nhanh. Đến năm 2050, Việt Nam sẽ bước sang giai đoạn “dân số siêu già”. Như vậy, cơ hội DSV của Việt Nam chỉ có khoảng 36 năm. GS.Vương Đình Huệ, Trưởng Ban kinh tế TW đặt vấn đề rằng: “Liệu DSV có là cơ hội để chúng ta tránh được bẫy thu nhập trung bình không và có kịp làm giàu trước khi dân số già?” TS.Vũ Đình Ánh cũng cho rằng: “Trong khi chúng ta chưa xử lý được thách thức về chất lượng cho DSV thì lại đến cái lo mới là dân số già đi mà chưa kịp làm giàu”. Cũng bày tỏ quan ngại, GS.TS. Nguyễn đình Cử, Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Trường ĐH Kinh tế quốc dân thì khẳng định: “mỏ vàng không khai thác vẫn còn nhưng cơ cấu DSV không khai thác kịp sẽ hết”. Những thông tin được “mổ xẻ” tại hội thảo này cho thấy DSV đang thực sự là thách thức lớn cho toàn xã hội Việt Nam nói chung và cho nhân lực KH và CN nói riêng trong thời gian tới.

Trà Giang (ghi)

Số 155+156 (1+2/2014)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật