Trang chủ Diễn đàn Phát huy vai trò của KH&CN nhằm phát triển KT&XH

Phát huy vai trò của KH&CN nhằm phát triển KT&XH

Sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN) đã tạo ra những đột phá lớn trong sự phát triển của xã hội loài người. KH&CN đã và đang có những biến đổi rất nhanh, mạnh và trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH). Thực tế cho thấy, KH&CN đã có những đóng góp to lớn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Từ thực tế tại một số quốc gia trên thế giới, bài viết đề xuất một số giải pháp cho hoạt động này tại Việt Nam.

Thực tiễn tại một số quốc gia trên thế giới
KH&CN ngày nay đã làm thay đổi một cách toàn diện về phương thức làm việc, nếp sống, suy nghĩ của xã hội. Công nghệ thông tin khiến cho thế giới như nhỏ lại, “không còn ranh giới địa lý” giữa các quốc gia. Giờ đây, với hệ thống viễn thông, internet... con người ở bất kỳ đâu trên thế giới cũng có thể liên lạc được với nhau, bằng giọng nói, bằng hình ảnh được truyền đi trực tiếp bằng những công nghệ 3G. Thương mại điện tử giúp người mua bán hàng hoá, dịch vụ thuận lợi hơn. Công nghệ sinh học đã tạo xúc tác cho những nỗ lực kinh tế và khoa học. Trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ biến đổi gien đã tạo ra được nhiều cây/con chịu được các điều kiện khắc nghiệt và cho năng suất cao. Trong lĩnh vực y tế, người ta đã chế tạo ra được nhiều loại thuốc chữa bệnh, nhiều bộ phận cơ thể người nhân tạo để thay thế cho người bệnh. Công nghệ vật liệu mới tạo ra những vật liệu siêu nhẹ, siêu bền, siêu nhỏ bằng công nghệ nano. Nhận thức được vai trò to lớn của hoạt động KH&CN, nên không một quốc gia nào không chú trọng đến phát triển KH&CN. Thực tế, hoạt động KH&CN ở mỗi quốc gia có những phương thức thực hiện, bước đi khác nhau song cùng chung mục đích là đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu KH&CN, coi KH&CN là động lực cho sự phát triển bền vững.
Ở Mỹ, Chính quyền Liên bang rất chú trọng đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phổ cập kiến thức KH&CN. Một trong những điểm nổi bật trong phát triển KH&CN của Mỹ là sự liên kết chặt chẽ giữa các trường đại học với các ngành khoa học. Đây là một yếu tố rất quan trọng để đảm bảo được nguồn nhân lực sau khi ra trường có khả năng nghiên cứu và làm việc trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Sự tài trợ của Chính phủ Liên bang đối với nghiên cứu phát triển theo các nguyên tắc như: Dành phần lớn kinh phí tài trợ cho nghiên cứu cơ bản - lĩnh vực có thể không thể tạo ra ứng dụng ngay lập tức, nghiên cứu đòi hỏi mức độ đầu tư dài hạn vững chắc, các cơ sở nghiên cứu lớn vượt ngoài khả năng xây dựng hoặc duy trì của ngành công nghiệp tư nhân. Ngoài ra, ở Mỹ còn có chính sách nhằm đào tạo những lao động có trình độ cao trong lĩnh vực KH&CN, đặc biệt là chính sách nhằm thu hút nhân tài KH&CN đến từ các nước khác trên thế giới.
Ở Đức, trong những năm gần đây, Chính phủ đã có những thay đổi lớn trong chính sách KH&CN. Cụ thể, đã tập trung đầu tư lớn về tài chính cho các cơ sở đào tạo đại học; cấp tài trợ cho những người trẻ tuổi nghiên cứu ở các trường đại học. Trong tiến trình mở rộng quy mô nghiên cứu đại học quốc tế, Chính phủ Đức đã đóng vai trò chính trong khuôn khổ “Tiến trình Bologa” - sự hợp tác của 40 nước Châu Âu về nguyên tắc thiết lập kỷ nguyên giáo dục đại học Châu Âu cho đến năm 2010. Chính phủ tăng cường số lượng trao đổi sinh viên và nhà khoa học giữa các nước nhằm học hỏi và thu hút nhân tài cả trong ngoài nước.
Ở Hàn Quốc, Chính phủ nhận thức rằng, chính KH&CN đã làm cho đất nước trong thời gian qua có tốc độ tăng trưởng nhanh. Trong thời gian chưa đầy 50 năm, từ một nước có thu nhập bình quân đầu người 100 USD vào những năm 60 đến nay đã đạt con số gần 20.000 USD/đầu người. Hiện nay, KH&CN được đưa vào chương trình nghị sự chính sách hàng đầu với quan điểm chuyển đất nước thành một xã hội dựa trên KH&CN. Chính vì vậy, Chính phủ có những chính sách ưu tiên nhắm vào việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản và phát triển nguồn nhân lực có khả năng sáng tạo về KH&CN. Chính phủ Hàn Quốc đã đặt mục tiêu tăng gấp đôi kinh phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Một nét nổi bật trong hệ thống giáo dục ở Hàn Quốc là sự gắn kết chặt chẽ và có hiệu quả giữa đào tạo đại học, công tác nghiên cứu và ứng dụng trong các doanh nghiệp. Nhằm hướng tới mục tiêu đó, Chính phủ đã có những thay đổi trong cơ chế quản lý, cụ thể, đã nhập Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) và Bộ KH&CN thành Bộ Giáo dục, KH&CN. Đây là một tiền đề quan trọng để kết nối sự phát tiển giáo dục và thúc đẩy KH&CN. Đặc biệt, mô hình giáo dục đào tạo đại học nổi bật hiện nay ở Hàn Quốc là mô hình “Trường đại học định hướng nghiên cứu”. Với mô hình này, công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong trường đại học được gắn kết với nhau chặt chẽ và lực lượng sinh viên sau khi ra trường có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của thị trường lao động. Viện nghiên cứu KH&CN tiên tiến Hàn Quốc (KAIT) là điển hình của mô hình trên với khẩu hiệu của trường là “Giáo dục và Nghiên cứu vì tương lai của con người”, KAIT đã đạt được những thành tựu to lớn trong công tác đào tạo và nghiên cứu. Từ năm 2001 tính đến tháng 1/2009, tổng số bằng sáng chế được đăng ký trong nước và quốc tế của KAIT đã lên tới con số 3.417.
Tại Việt Nam, KH&CN được coi là khâu then chốt trong việc đảm bảo cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Điều này đã được khẳng định tại Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng: “Giáo dục và đào tạo cùng với KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”. Trong chiến lược 10 năm phát triển KT-XH của đất nước 2001-2010 đã đề ra nhiệm vụ phải “tăng cường tiềm lực và đổi mới cơ chế quản lý để KH&CN thực sự trở thành động lực phát triển của đất nước. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành TW Đảng tại Đại hội X cũng đặt ra mục tiêu quan trọng trong phát triển KH&CN: “Phấn đấu đến năm 2010 năng lực KH&CN của nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng”; “Sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng chậm phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Thực tế thời gian qua cho thấy, hoạt động KH&CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển KT-XH của đất nước. KH&CN đã ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng và quyết định để đảm bảo phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Tuy nhiên, nhìn chung năng lực KH&CN của Việt Nam vẫn còn ở trình độ thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước; chưa phát huy được tiềm lực, trí sáng tạo, tâm huyết của đội ngũ cán bộ KH&CN. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ trí thức KH&CN còn thiếu cán bộ có năng lực giỏi, cùng với chính sách sử dụng cán bộ KH&CN còn nhiều bất cập. Cơ chế quản lý cán bộ và tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường.
Chính sách nhằm phát triển KH&CN tại Việt Nam
Để KH&CN thực sự trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu, là động lực và nền tảng thúc đẩy phát triển KT-HX, đẩy nhanh tiến độ CNH, HĐH, rút ngắn khoảng cách đối với các nước phát triển, việc nâng cao trình độ và năng lực KH&CN quốc gia có một ý nghĩa chiến lược. Để thực hiện được điều đó, chúng ta cần thực hiện các giải pháp chiến lược sau:
Một là, cần gắn kết giữa KH&CN với giáo dục và đào tạo, giữa nghiên cứu và giảng dạy với sản xuất, kinh doanh. Để thực hiện được điều đó, chúng ta cần tăng cường xây dựng các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu, công viên kỹ thuật cao, khu công nghệ cao để thu hút nhân tài. Cần có những chính sách hỗ trợ các trường đại học và viện nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ “ươm tạo công nghệ” và “ươm tạo doanh nghiệp” công nghệ cao. Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách để khuyến khích các tổ chức nghiên cứu và phát triển chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN. Các tổ chức nghiên cứu và phát triển của Nhà nước được phép thành lập doanh nghiệp để ứng dụng các kết quả nghiên cứu và thực tế cuộc sống. Nhà nước khuyến khích tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp liên kết với các cơ sở nghiên cứu, trường đại học trong nghiên cứu chuyển giao công nghệ.
Hai là, đổi mới cơ bản về cơ chế quản lý KH&CN, nhất là cơ chế tài chính cho phù hợp đặc thù sáng tạo và khả năng rủi ro của hoạt động này. Cụ thể, Chính phủ cần có chính sách nhằm gia tăng đầu tư, đặc biệt là đầu tư xã hội cho KH&CN. Ở Việt Nam hiện nay, tổng chi cho nghiên cứu KH&CN đạt 2% tổng chi Ngân sách Nhà nước (ước khoảng 0,5% GDP), khoản đầu tư này là rất thấp so với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển. Chi cho KH&CN ngoài ngân sách Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là từ khu vực doanh nghiệp. Như vậy, cần phải có chính sách khuyến khích nhằm tăng đầu tư xã hội chi cho KH&CN với tỷ trọng cao hơn so với nguồn chi từ ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, cần thực hiện việc trích lập quỹ phát triển KH&CN để chi cho đầu tư phát triển KH&CN ở các doanh nghiệp theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Áp dụng cơ chế khoán đối với đề tài, dự án KH&CN trong một số lĩnh vực KH&CN trên cơ sở thẩm định kỹ về nội dung, sản phẩm nghiên cứu và dự toán kinh phí thực hiện.
Ba là, cần nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ quan nghiên cứu khoa học. Đây là yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển KH&CN. Trước hết, cần chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và khuyến khích việc thành lập các doanh nghiệp KH&CN thuộc mọi thành phần kinh tế.
Bốn là, phát triển thị trường công nghệ nhằm tạo điều kiện cho các sản phẩm KH&CN có nơi giao dịch nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa các chủ thể cung - cầu. Để thị trường này hoạt động lành mạnh, trước hết cần có hành lang pháp lý hoàn thiện về sở hữu trí tuệ. Trước mắt, cần thống nhất hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước; khuyến khích chuyển giao công nghệ, ban hành chính sách hỗ trợ ứng dụng KH&CN vào mọi hoạt động KT-XH.
Năm là, có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ trí thức KH&CN, như các tiêu chuẩn cán bộ KH&CN được hỗ trợ về nhà ở, lương... nhằm bảo đảm nuôi sống được gia đình; được trang bị những điều kiện và phương tiện, thiết bị làm việc để phát huy tài năng và tâm huyết của cán bộ nghiên cứu. Ngoài ra, cần có chính sách thu hút trí thức KH&CN là kiều bào ở nước ngoài. Bởi chính các trí thức kiều bào là một trong những tiềm năng lớn cần khai thác và chính là cầu nối giữa Việt Nam với các nước phát triển trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực KH&CN.
Sáu là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế về KH&CN như cử chuyên gia và sinh viên giỏi ra nước ngoài học tập, nghiên cứu. Xây dựng chiến lược hội nhập về KH&CN, rút ngắn khoảng cách về KH&CN giữa Việt Nam và thế giới.
Qua thực tiễn phát triển KT-XH cho thấy, hoạt động KH&CN đang ngày càng đóng góp lớn vào hàm lượng giá trị của sản phẩm và nó trở thành lực lượng sản xuất trọng yếu của nền kinh tế hiện đại. Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhằm tránh tụt hậu so với các nước trong khu vực, không con đường nào khác là phải nhanh chóng và tăng cường phát triển KH&CN nhằm thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất và lấy đó làm khâu đột phá cho chiến lược phát triển KT-XH. q
Tài liệu tham khảo:
1. Ahn Byong Man, Phát triển lĩnh vực giáo dục, KH&CN giữa hai nước Việt Nam - Hàn quốc, T/c Kinh tế và Phát triển, số 144, 2009.
2. Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, 2006
3. Hoàng Văn Hoa, Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN trong các trường đại học, T/c Kinh tế và Phát triển, số 143, 2009.
4. Thomas L. Friedman, Thế giới phẳng, Nxb Trẻ, 2006.

Đoàn Thanh Hà Viện Nghiên cứu KH&CN Ngân hàng

Số 146 (3/2013)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật