Trang chủ Diễn đàn Phát triển Công nghệ Vệ tinh Cần là mục tiêu ưu tiêu của Việt Nam

Phát triển Công nghệ Vệ tinh Cần là mục tiêu ưu tiêu của Việt Nam

Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ Vũ trụ đến năm 2020” (vào tháng 6/2006), Công nghệ Vệ tinh của Việt Nam cũng đã trở nên “rầm rộ” hơn và có những bước tiến nổi bật. Trung tâm Vệ tinh quốc gia đã  được thành lập, các dự án phóng vệ tinh viễn thông Vinasat 1,Vinasat 2, các vệ tinh quan sát trái đất VNREDSat-1, VNREDSat-1B,… được phê duyệt và tiến hành, xây dựng Trung tâm Vũ trụ tại Khu CNC Hòa Lạc,…

Có được điều này cũng là nhờ vào những nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực này tại Việt Nam, trong đó không thể không nhắc đến PGS.TS.Phạm Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Vệ tinh Quốc gia. Nhân dịp năm mới 2013, Tạp chí Tự động hóa ngày nay có cuộc trò chuyện với ông xung quanh sự ra đời và hoạt động của Trung tâm cũng như ảnh hưởng của tổ chức sự nghiệp khoa học này đến sự phát triển của Công nghệ Vũ trụ tại Việt Nam.

PGS.TS.Phạm Anh Tuấn

PV: Trung tâm Vệ tinh Quốc gia là tổ chức sự nghiệp khoa học đầu tiên của Việt Nam đi sâu vào lĩnh vực Công nghệ Vệ tinh, xin ông cho biết về sự ra đời của Trung tâm?

PGS.TS.Phạm Anh Tuấn: Việt Nam là một trong những nước chịu nhiều thiên tai nhất trên thế giới. Theo thống kê, thiệt hại do thiên tai và thảm họa do con người ước tính trên một tỉ Đô la Mỹ, chiếm tới 1% tổng thu nhập quốc nội của Việt Nam và làm chết hàng trăm người mỗi năm. Chính vì vậy,  phòng chống thiên tai là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của Chính phủ. Để góp phần giải quyết được điều này, trước mắt cần phải thiết lập và xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thu nhận liên tục dữ liệu viễn thám vệ tinh để giám sát các thảm họa tự nhiên, quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường,... Do đó, phát triển Công nghệ Vệ tinh (CNVT) thông qua việc phát triển và ứng dụng dữ liệu vệ tinh cần là mục tiêu ưu tiêu của Việt Nam.

Ngày 14/06/2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ Vũ trụ đến năm 2020” nhằm xác định mục tiêu, nội dung và giải pháp nghiên cứu và ứng dụng CNVT đến năm 2020 phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta và phân công thực hiện chiến lược giữa các bộ, ngành, địa phương... Nhận thức được tầm quan trọng đó, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KH&CNVN) đã mạnh dạn đề xuất chủ trương xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Hòa Lạc từ năm 2007. Sau quá trình chuẩn bị, Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Hòa Lạc đã được Chính phủ giao cho Viện KH&CNVN với sự hỗ trợ của Nhật Bản thiết kế, xây dựng.

Ngày 22/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã kết luận “Đây là dự án đầu tư trọng điểm, tạo cơ sở nòng cốt để triển khai thực hiện các hoạt động nghiên cứu-triển khai, đào tạo, ứng dụng CNVT và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNVT, nhằm thực hiện Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng CNVT đến năm 2020”. Trên cơ sở dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam và để thực hiện thực hiện Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng CNVT đến năm 2020 và xa hơn nữa, tháng 5/2010, Viện KH&CN VN đã lên kế hoạch thành lập Trung tâm Vệ tinh Quốc gia (TTVTQG). Một trong những nhiệm vụ của Trung tâm này là tiếp nhận, quản lý và thực hiện dự án xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam.

Cuối tháng 2/2011, nhóm tư vấn JICA (Nhật Bản) đã hoàn thành Báo cáo Nghiên cứu khảo sát chuẩn bị cho dự án và trình chính phủ Nhật Bản. Ngày 16/9/2011, TTVTQG trực thuộc Viện KH&CNVN đã được thành lập theo quyết định số 1611/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tháng 11/2011, Chính phủ hai nước đã ký hiệp định vay vốn ODA cho dự án.

Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đã được nhấn nút khởi công xây dựng vào ngày 19/9/2012 tại Khu CNC Láng - Hòa Lạc


PV: Công nghệ Vệ tinh là lĩnh vực còn rất mới tại Việt Nam, sau hơn 1 năm thành lập, đến nay Trung tâm đã có những hoạt động nào hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của lĩnh vực này tại Việt Nam?

PGS.TS.Phạm Anh Tuấn: Có thể nói năm 2012 là một năm khá thành công của TTVTQG dù chúng tôi mới chỉ bắt đầu. Ngay từ đầu chúng tôi xác định nhiệm vụ đào tạo nhân lực là rất quan trọng đối với sự phát triển CNVT ở Việt Nam. Năm nay chúng tôi đã có có 18 cán bộ được cử đi học đào tạo ngắn hạn về quản lý dự án. Trong 3 năm tới sẽ có tổng khoảng 54 cán bộ được cử đi đào tạo và nhận chuyển giao Công nghệ Vệ tinh trong đó có 36 cán bộ được đào tạo trình độ cao học tại 5 trường Đại học của Nhật Bản và 40 kỹ sư học về ứng dụng công nghệ yệ tinh. Sau khi học tập cơ bản ở trường Đại học, các kỹ sư của Việt Nam sẽ được làm việc trực tiếp tại các trung tâm vũ trụ, các doanh nghiệp chế tạo vệ tinh để thực hành việc thiết kế, chế tạo vệ tinh và ứng dụng công nghệ vệ tinh.

Bên cạnh việc gửi cán bộ giỏi đi đào tạo ở nước ngoài, trong nước chúng tôi cũng đã ký kết các chương trình đào tạo với trường Đại học Quốc tế Việt Pháp để đào tạo trình độ cao học, ngay năm 2012 đã bắt đầu với 16 học viên. Đại học Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội sẽ đảm nhiệm việc đào tạo kỹ sư. Để phát triển lâu dài, trong thời gian tới Viện KH&CNVN sẽ xây dựng Đề án đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực Khoa học Vũ trụ.

Ngoài tích cực thực hiện công tác nghiên cứu và triển khai ứng dụng CNVT qua các đề tài, dự án công nghệ vũ trụ được giao, mảng hoạt động mà TTVTQG cũng rất chú trọng là mở rộng hợp tác quốc tế. Trong năm qua chúng tôi cũng đã tham gia tích cực để chuẩn bị triển khai 03 Dự án hợp tác quốc tế:

* Dự án ứng dụng hệ thống định vị vệ tinh QZSS (Văn phòng Chiến lược vũ trụ Nhật Bản),

* Dự án chùm vệ tinh JAPAN - ASEAN

* Chương trình GLOBE (NASA-Mỹ),…

Chúng tôi cũng đã ký thỏa thuận hợp tác với các Trường Đại học Nhật Bản nhằm phát triển vệ tinh châu Á -Thái Bình Dương và phát triển nhân lực cho Công nghệ Vũ trụ.

Phối cảnh Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc


PV: Trung tâm Vũ trụ Việt Nam vừa được khởi công xây dựng vào tháng 9/2012, là dự án đặc biệt quan trọng trong Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng Công nghệ Vũ trụ đến năm 2020. Vậy Trung tâm đảm trách những nhiệm vụ quan trọng nào?

PGS.TS.Phạm Anh Tuấn: Một trong những mục tiêu chính của Chiến lược Công nghệ Vũ trụ Việt Nam đến năm 2020 là vào thời điểm đó, chúng ta sẽ hoàn toàn tự chủ trong việc chế tạo vệ tinh nhỏ, quan sát trái đất. Đây cũng là nhiệm vụ đầu tiên được đặt ra với Trung tâm Vũ trụ Việt Nam. Chỉ khi đầu tư đồng bộ như thế này chúng ta mới có thể tự thiết kế, chế tạo vệ tinh được. Khi chúng ta có vệ tinh, chúng ta sẽ chủ động mọi việc, sẽ ứng dụng ảnh vệ tinh vào các lĩnh vực đời sống, phát triển kinh tế - xã hội.

Mục tiêu thứ hai của Trung tâm là xây dựng và xử lý các dữ liệu vệ tinh phục vụ giám sát và cảnh báo sớm thiên tai, các thảm họa môi trường; dự báo sớm sản lượng nông nghiệp, nguồn lợi hải sản, cập nhật hệ thống bản đồ điện tử cho quản lý và quy hoạch đất đai; nghiên cứu và phòng chống biến đổi khí hậu toàn cầu.

Hiện nay muốn chụp ảnh khu vực nào chúng ta phải đặt hàng, sau đó ít nhất hơn 2 ngày mới nhận được. Còn nếu chúng ta có vệ tinh, mọi việc sẽ được hoàn tất trong vòng 6-12 tiếng đồng hồ. Chẳng hạn như việc cảnh báo thiên tai, phòng chống lũ. Nếu có ảnh vệ tinh một cách chủ động, chắc chắn chúng ta sẽ hạn chế được nhiều thiệt hại so với hiện nay. Hay như công tác quy hoạch, việc chụp ảnh vệ tinh là hết sức cần thiết, liên tục, với số lượng lớn nhưng hiện nay vì không có kinh phí nên chúng ta vẫn chưa thực hiện được, do vậy, không thể tránh khỏi sự thiếu đồng bộ, quy hoạch không sát với thực tế.

Mục tiêu thứ ba của dự án là đào tạo được đội ngũ chuyên nghiệp, am hiểu tận gốc về các công nghệ cần thiết. Như trên đã nêu, chúng tôi đã có kế hoạch cử gần 100 cán bộ sang Nhật Bản để đào tạo một cách chính quy về Công nghệ Vệ tinh, Ứng dụng và quản lý. Trong quá trình chuẩn bị dự án, chúng tôi luôn đặt trọng tâm vào sự đồng bộ giữa 3 thành phần chính của dự án là kỹ thuật, công nghệ và nguồn nhân lực.


PV: Trung tâm Vũ trụ Việt Nam là dự án trọng điểm quốc gia được đầu tư đồng bộ và cho đến nay cũng là một trong những dự án được đầu tư lớn nhất trong lĩnh vực khoa học và công nghệ của Việt Nam trong 35 năm qua bằng nguồn vốn ODA ưu đãi của Chính phủ Nhật Bản và vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam. Được biết, trước đây Chính phủ Nhật Bản chưa có tiền lệ đầu tư công nghệ cao thông qua vốn ODA cho nước ngoài. Vậy đây có phải là bước hợp tác chiến lược giữa hai Chính phủ trong lĩnh vực Công nghệ Vũ trụ?

PGS.TS.Phạm Anh Tuấn: Năm 2006, sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược công nghệ vũ trụ, các nhà khoa học vũ trụ Việt Nam đã đề xuất ý tưởng xây dựng Trung tâm Vũ trụ riêng của Việt Nam. Từ suy nghĩ đó, các nhà khoa học đã dần hoàn thiện ý tưởng, trao đổi với các đối tác nước ngoài. Cũng trùng hợp vì đó lại là thời điểm Nhật Bản đang đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, tập trung tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

Trên thế giới chỉ có một vài Quốc gia, vùng lãnh thổ có đủ khả năng chuyển giao công nghệ vũ trụ. Có thể kể tên là Mỹ, Nga, Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. Tuy nhiên, không phải nước nào cũng sẵn sàng đầu tư công nghệ cao ra nước ngoài. Nhật Bản là đối tác chiến lược của Việt Nam, hai nước lại chịu ảnh hưởng rất nặng nề của thảm họa thiên tai, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, do vậy hai bên đã dễ dàng tìm được tiếng nói chung.

Dự án xây dựng Trung tâm Vũ trụ Việt Nam có thể nói là một bước ngoặt trong việc đầu tư các dự án ODA đối với cả Nhật Bản và Việt Nam.


PV: Nhân dịp năm mới 2013, ông có thể cho biết khi nào thì vệ tinh đầu tiên sử dụng hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam trong quá trình nghiên cứu chế tạo sẽ được phóng lên quỹ đạo?

PGS.TS.Phạm Anh Tuấn: Theo kế hoạch năm 2016, Trung tâm Vũ trụ Việt Nam sẽ hoàn thành công tác xây dựng cơ bản, để chuẩn bị thiết bị, công nghệ cho việc phóng vệ tinh đầu tiên vào năm 2017. Đây là vệ tinh được thiết kế, chế tạo, lắp ráp tại Nhật Bản.

Vệ tinh thứ hai sẽ được thiết kế lắp ráp tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam và sẽ hoàn thiện để phóng lên quỹ đạo vào cuối năm 2020.
PV: Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Trà Giang (Thực hiện)

Số 145 (1+2/2013)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật