Trang chủ Diễn đàn Vài trăn trở về định hướng phát triển ngành Tự động hoá Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Vài trăn trở về định hướng phát triển ngành Tự động hoá Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Sau loạt bài “VCCA cần một đường dẫn” đăng trên số Tạp chí tháng 11/2011, “Tự động hóa cần ai, Ai cần tự động hóa?” (số tháng 5/2012), “Xuất lao động thô, nhập lao động tinh: Lời giải không chỉ thuộc về đào tạo” (số tháng 11/2012), nhiều nhà khoa học đã có ý kiến tham luận xung quanh chủ đề về định hướng phát triển ngành tự động hóa nói riêng, các lĩnh vực công nghệ cao nói chung và về vấn đề đào tạo nhân lực cho các ngành khoa học này.

Nhân dịp bước sang năm mới Quý Tỵ, Tạp chí Tự động hóa ngày nay đăng bài viết của GS.TSKH Nguyễn Phùng Quang - Giảng viên Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, người rất tâm huyết với ngành Tự động hóa Việt Nam. Sau bài viết này Tòa soạn Tạp chí mong nhận thêm được ý kiến tham luận của các tác giả khác để tạo thành diễn đàn sâu rộng hơn xung quanh vấn đề này.

GS.TSKH. Nguyễn Phùng Quang phát biểu tại Hội thảo sơ kết công tác triển khai các đề tài/dự án và định hướng công tác đến năm 2013 của Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước KC.03/11-15- Ảnh Trà Giang

“PHÁT TRIỂN NGÀNH TỰ ĐỘNG HÓA VIỆT NAM” tới những đỉnh cao xứng tầm với tiềm năng của đất nước là một điều luôn day dứt các chuyên gia hoạt động trên lĩnh vực này. Nếu xét trên số tiền không nhỏ mà Nhà nước đã đầu tư, xét trên số lượng các đề tài đã được thực hiện trong những năm qua cùng với nội dung của chúng, thêm vào đó là đầu tư của các doanh nghiệp, ta có thể nói rằng đầu tư ấy là không nhỏ. Vậy mà cảm nhận chung vẫn là “chưa có hiệu quả”, vẫn là “chưa góp phần thúc đẩy hiện đại hóa công nghiệp nước nhà”. Vậy thì:

1. Nguyên nhân của tình trạng đó là gì?

2. Cần có thay đổi gì trong định hướng phát triển để thay đổi tình trạng đó?

Vài suy nghĩ trăn trở về hai câu hỏi trên chính là nội dung của bài viết này. Thực ra có thể nói trước, đây là câu hỏi mà câu trả lời thực tế không chỉ nằm trong tay Ban Chủ nhiệm Chương trình KH&CN trọng điểm cấp Nhà nước Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ Cơ khí, Tự động hóa giai đoạn 2011-2015 (KC.03/11-15). Câu trả lời chỉ có thể đến từ các nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô, tầm quốc gia. Ban Chủ nhiệm KC.03/11-15 chỉ có thể hành động trong phạm vi hạn hẹp “đề xuất – tuyển chọn – quản lý thực hiện” các đề tài thuộc Chương trình của mình với một khung tài chính hạn hẹp tương ứng.

Máy phay CNC cao tốc, sản phẩm nội địa do Công ty BKMech nghiên cứu thiết kế - thành quả đáng khích lệ của các nhà KH Việt Nam - Ảnh Trà Giang

A. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN

Thiếu một định hướng phát triển đúng

Đã một thời gian rất dài, khi đặt vấn đề thực hiện các công trình - đề tài tự động hóa (TĐH) chúng ta luôn “giương cao ngọn cờ tích hợp” các phần tử nhập ngoại với hai lý lẽ chủ đạo: Miễn là làm sao giá thành rẻ hơn nhập ngoại, và nước ngoài người ta cũng làm như thế cả.

Cả hai lý lẽ trên đều chỉ đúng một nửa: Lý lẽ thứ nhất đúng là có dẫn đến rẻ hơn nhưng phản ánh thực chất là chúng ta luôn phụ thuộc nước ngoài, luôn phải nhập ngoại các phần tử cơ sở làm nên thiết bị công nghệ đang được nghiên cứu - phát triển (NC-PT).

Lý lẽ thứ 2 lẩn tránh một sự thật là, các nước phát triển luôn có một thị trường nội địa về các phần tử cơ sở rất phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu NC-PT các sản phẩm TĐH của họ. Để bổ sung hoặc để hoàn thiện hơn, họ có thể nhập ngoại các phần tử mà họ còn thiếu hoặc các phần tử tốt hơn phần tử nội địa của nước họ.

Thêm vào đó, cần phải khẳng định rằng việc “giương cao ngọn cờ tích hợp” thực chất phản ánh việc chúng ta đã không có định hướng phát triển đúng. Đó là định hướng “phát triển nền công nghiệp sản xuất các phần tử cơ sở của kỹ thuật công nghiệp nói chung và của kỹ thuật Điều khiển - Tự động hóa nói riêng”.

Sự phát triển lệch lạc do thiếu định hướng đúng đó đã khiến chúng ta hiện nay chỉ có thể đi theo hướng NC-PT các “ứng dụng TĐH” trên cơ sở mua các phần tử về tích hợp lại thành thiết bị chúng ta cần. Đó cũng là một trong các nguyên nhân khiến cho các đề tài về TĐH bấy lâu nay thường bị xếp vào ngăn kéo sau khi được nghiệm thu do khó có khả năng nhân rộng một cách có hiệu quả về kinh tế với gốc rễ cơ sở trong nước.

Vậy “các phần tử cơ sở của TĐH” là gì? Theo tư duy của người viết bài này, có thể hiểu đó “là các phần tử tương đối trung lập về chức năng, được sử dụng để thiết kế chế tạo các thiết bị và dây chuyền TĐH”. Theo cách hiểu này có thể sơ sơ liệt kê ra vài phần tử quan trọng (mang tính chất ví dụ minh họa), có thể được coi là các thành phần tế bào của thiết bị TĐH:

* Động cơ điện: Một phần tử vô cùng quan trọng tạo nên các quá trình chuyển động có độ chính xác cao như máy công cụ, robot, tay máy. Thật buồn khi ta chỉ có thể mua trong nước động cơ standard thương hiệu Việt Hung. Trong khi công nghệ TĐH có thể cần biết bao loại khác, từ động cơ servo (đồng bộ kích thích vĩnh cửu, không đồng bộ rotor lồng sóc) có tần số công tác 100-200Hz và tích hợp sẵn incremental encoder, cho tới động cơ tuyến tính tạo chuyển động thẳng trực tiếp, động cơ có tích hợp ổ từ vv… Ngoài ra còn cần kể đến các loại động cơ siêu nhỏ sử dụng trong y học (ví dụ: giúp hỗ trợ tuần hoàn máu).

* Các bộ điều khiển (ĐK): Ví dụ điển hình nhất là bộ điều khiển CNC với ứng dụng không chỉ trong công nghiệp chế tạo máy (các loại máy cắt gọt kim loại), CNC còn thâm nhập và tạo điều kiện phát triển các ngành khác như dệt may, công nghiệp điện tử vv… Cho đến nay, các đề tài liên quan tới CNC của ta đều chỉ mới hạn chế ở việc nhập ngoại CNC, còn ta chỉ chú tâm vào tích hợp và lập trình. Ngoài ra cũng thuộc phạm trù bộ ĐK ta còn phải kể đến các bộ ĐK khả trình PLC.

* Linh kiện bán dẫn: Đương nhiên ta không thể phát triển công nghiệp bán dẫn để đáp ứng mọi nhu cầu trong nước, điều đó sẽ không có hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, trong “phổ linh kiện bán dẫn” trải dài từ các loại linh kiện đơn (transistor, thyristor, IGBT vv…) cho đến các linh kiện có độ tích hợp cao như các loại chip, lẽ ra ta cũng đã có thể lựa chọn một vài họ quan trọng nào đó để đầu tư phát triển. Cách đây 30 năm ta đã từng có xuất phát điểm theo hướng này, chỉ cần nhớ đến transistor của Z181 hay diode điểm của Tổng cục điện tử. Nếu có sự theo đuổi một cách kiên trì dài hơi thì từ xuất phát điểm đó ngày nay ta cũng đã có thể có một ngành công nghiệp bán dẫn. Vậy mà người ta đã để chúng chết yểu?

* Các thiết bị biến đổi chuẩn: Đây là các thiết bị sử dụng linh kiện điện tử công suất (thyristor, IGBT, IGFET, MOSFET). Công nghiệp chế tạo máy, các ngành công nghiệp công nghệ cao có sử dụng động cơ rất cần phần tử này. Đối với ngành công nghiệp năng lượng lại càng cần loại thiết bị này, chỉ cần liệt kê các thuật ngữ FACTS, STATCOM vv… là thấy rõ.

Gần đây, dường như sự phát triển lệch lạc này cũng đã được nhận ra và người ta đã nói nhiều tới việc thúc đẩy phát triển một nền công nghiệp sản xuất các “phần tử phụ trợ”, thực chất nhằm vào các “phần tử cơ sở”. Đây là một sự thay đổi định hướng đúng, tuy có hơi muộn nhưng chưa phải quá muộn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa xác định: Những phần tử nào là “phần tử cơ sở của TĐH” mà ta cần đặt vấn đề NC-PT, tiến tới sản xuất tại Việt Nam và cần phải làm gì để định hướng mới này trở thành hiện thực.

Thiếu một chính sách phù hợp khích lệ doanh nghiệp đầu tư cho NC-PT

Có một thực tế là “suất đầu tư cho NC-PT” tại các doanh nghiệp hiện nay rất thấp. Trong cơ cấu tổ chức tại hầu hết các doanh nghiệp (không chỉ doanh nghiệp TĐH hoặc có sử dụng công nghệ TĐH) thường chỉ có một phòng kỹ thuật, mà chưa có phòng NC-PT. Nếu chỉ nhìn riêng dưới giác độ TĐH, điều này có hai nguyên nhân chính:

* Mặc dù TĐH hứa hẹn tăng năng suất, nâng cao và bảo đảm chất lượng, mang lại lợi nhuận lâu dài. Tuy nhiên, đầu tư cho TĐH vẫn là đầu tư dài hơi, không ngay lập tức gia tăng lợi nhuận, khiến các doanh nghiệp chùn tay khi đầu tư cho TĐH.

* Tác động phanh hãm trên còn được khuếch đại thêm khi Nhà nước chưa có một chính sách khích lệ (ví dụ: chính sách thuế đối với đầu tư cho NC-PT, chính sách thuế nhập khẩu đối với các trang thiết bị phục vụ NC-PT của doanh nghiệp vv…)

Việc thiếu một chính sách phù hợp nhằm khích lệ doanh nghiệp đầu tư cho NC-PT cũng là một trong các nguyên nhân khiến kết quả của các đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) bị cất vào ngăn kéo sau khi nghiệm thu. Bất chấp một thực tế là họ đã có cam kết (dưới dạng văn bản khi nộp hồ sơ đăng ký thực hiện đề tài) tham gia thực hiện và sau đó đưa kết quả NCKH vào ứng dụng tại doanh nghiệp của mình.

Việc thiếu chính sách thích hợp còn khiến cho “Nhà nước trở nên cô đơn” trong cố gắng thu hút các nguồn lực đầu tư cho NCKH. Ở nước ta các doanh nghiệp hầu như không tham gia vào nỗ lực đầu tư cho các đề tài - dự án NCKH của các nhà KH do thiếu sự hấp dẫn nhất định. Nguồn đầu tư chủ đạo (gần như là duy nhất) là của Nhà nước và so với nhu cầu thực sự vẫn còn rất khiêm tốn. Tìm hiểu tại các nước phát triển: Nguồn tiền đầu tư chính cho NCKH lại đến từ khối kinh tế tư nhân.

Thiếu một chính sách phù hợp khích lệ nhà KH nghiên cứu

Không chỉ đối với các nhà KH thuộc lĩnh vực TĐH, mà đối với các lĩnh vực khác cũng vậy, Nhà nước cũng chưa có chính sách phù hợp khích lệ họ NCKH. Đối với nhà KH, công việc NCKH là sở trường, là khả năng của họ. Vì vậy, để khích lệ họ làm việc theo đúng sở trường, đúng khả năng thì phải có chính sách hợp lý:

* Giúp họ sống được nhờ NCKH: Điều này có lẽ không cần phải bàn thêm. Rõ ràng các nhà KH của ta chưa có mấy ai sống được nhờ hành nghề NC của mình.

* Công nhận nỗ lực và kết quả NCKH của họ: Nghe có vẻ như nghịch lý, nhưng thực tế đúng như vậy. Ở nước ta chỉ có các công trình được thực hiện từ các nguồn ngân sách Nhà nước (các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp thành phố, cấp ngành, cấp cơ sở vv…) mới được coi là công trình NCKH. Các đề tài đến từ doanh nghiệp không được coi là NCKH, điều này khiến cho nhà KH không mặn mà với việc NC phục vụ thực tiễn, đồng thời cắt luôn nguồn kinh phí từ phía khu vực kinh tế tư nhân.

Không khó để thấy rằng: Với nguồn tiền NCKH từ ngân sách còn khá khiêm tốn của mình, Nhà nước chỉ có thể đáp ứng được một số lượng (cũng) rất khiêm tốn về số lượng các vấn đề có thể và cần được nghiên cứu. Diễn đạt một cách khác: Với số lượng nhà KH ngày càng đông đảo, sẽ ngày càng ít nhà KH có thể tiếp cận được với nguồn tiền NCKH từ ngân sách. Nếu như họ có cơ hội thu hút được nguồn tiền từ khối doanh nghiệp tư nhân, thì họ sẽ vấp phải rào cản lớn, đó là: Kết quả NC đó của họ không được coi là NCKH. Không tin ta cứ đọc quy định của Nhà nước khi chấm điểm xét đạt “Tiêu chuẩn chức danh GS, PGS” ta sẽ rõ.

Phương thức đề xuất đề tài NCKH của các chương trình KC không hợp lý

Cho đến nay các đề tài do Bộ KH&CN đưa ra xét tuyển hàng năm (trên cơ sở danh sách các Ban Chủ nhiệm KC.x đưa lên) đã được lựa chọn theo phương thức không hợp lý. Các đề tài đó không hề có xuất xứ từ một “Chương trình NC-PT sản phẩm KHCN có tính chiến lược” của Nhà nước, mà được các nhà KH của các cơ sở (các trường ĐH, viện NC, doanh nghiệp vv…) đề xuất và sau đó sẽ được qua nhiều khâu sàng lọc (các Hội đồng), trước khi đưa trình Bộ KH&CN phê duyệt để công bố xét tuyển.

Tuy nhiên, không hề khó để chỉ ra rằng các khâu sàng lọc đó chỉ có khả năng “gạn đục khơi trong” từ số các đề xuất không theo một định hướng “sản phẩm KHCN có tính chiến lược” của Nhà nước, mà hoàn toàn theo hiểu biết, theo trình độ của mỗi nhà KH. Nhà KH biết gì, hiểu gì trên lĩnh vực hạn hẹp của mình, thì tự nhiên (trong mắt nhà KH) cái đó trở nên quan trọng, cần được NC, cần được thực hiện? Việc kết quả NCKH được xếp vào ngăn kéo sau khi nghiệm thu cũng là điều dễ hiểu.

B. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN TỰ ĐỘNG HÓA GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

Sau khi phân tích thực trạng ở trên, có thể đưa ra vài đề xuất cho định hướng phát triển lĩnh vực TĐH như sau.

Khẳng định hướng NC-PT các phần tử cơ sở của TĐH

Các cụ xưa có câu “có bột mới gột nên hồ”, vậy mà lĩnh vực TĐH của Việt Nam vẫn chưa có “bột”, hiểu theo nghĩa đen: “vẫn thiếu các phần tử cơ sở”. Vì lẽ ấy, theo ý kiến chủ quan cá nhân, người viết bài này cho rằng trước mắt chúng ta phải “khẳng định hướng NC-PT các phần tử cơ sở của TĐH” là hướng đi quan trọng nhất nhằm thúc đẩy phát triển TĐH trong nước. Để làm được điều này cần phải:

* Xây dựng danh mục các phần tử cơ sở: Gồm những phần tử quan trọng nhất, có ý nghĩa đối với nhiều lĩnh vực kỹ thuật công nghệ của nền kinh tế quốc dân?

* Xác định quy mô của công tác NC-PT: Sau khi đã xây dựng được danh mục, cần phải xác định được quy mô NC-PT của từng phần tử, ở mức một, hay một vài đề tài NCKH đơn lẻ, hay một dự án NCKH (gồm nhiều đề tài NCKH kết hợp)?

* Xác định danh mục đề xuất đề tài: Chương trình KC.03/11-15 phải là cơ quan chủ quản, đại diện Nhà nước chủ động trong việc bóc tách thành các đề tài được đề xuất.

* Xây dựng đề bài cho từng đề tài.

Người viết bài này xin mạnh dạn đưa ra danh sách một số phần tử cơ sở như sau:

+ Động cơ điện: Cần phải có một chương trình thúc đẩy NC-PT và sản xuất các loại động cơ có tính năng và chất lượng cao, được sử dụng trong các thiết bị TĐH như:

+ Động cơ servo loại đồng bộ kích thích vĩnh cửu, hay không đồng bộ nguồn kép với dải tần số công tác 0-100Hz, 0-200Hz và tích hợp cơ chế đo tốc độ quay (incremental encoder). Đây là loại động cơ không thể thiếu để phát triển công nghiệp chế tạo máy, chế tạo tay máy, robot công nghiệp.

+ Động cơ từ kháng (reluctance motor) là loại động cơ sử dụng phổ biến trong các ứng dụng sản xuất số lượng lớn nên đòi hỏi giá thành rất hạ, nhưng lại có độ bền cao (ví dụ: máy giặt, máy hút bụi vv…).

+ Động cơ tuyến tính (linear motor) tạo chuyển động trực tiếp, sử dụng trong công nghiệp chế tạo máy cần độ chính xác cao, cần gia tốc lớn và ít tổn hao, đồng thời có khả năng tích hợp vào không gian 3D hạn chế (cho phép giảm kích thước của máy cái).

+ Động cơ có trục đỡ là ổ từ (magnetic bearing motor, bearing-less motor) cho phép loại trừ ma sát trục và đạt tốc độ quay lớn.

+ Động cơ từ thông dọc trục (axial flux motor) là loại động cơ cho phép giảm đáng kể mômen quán tính, rất cần cho các ứng dụng cần đặc điểm động học tốt nhưng công suất nhỏ.

* Bộ điều khiển: Loại phần tử cơ sở này trỏ vào các bộ điều khiển đa năng, có thể được sử dụng trong nhiều ứng dụng rất khác nhau.

+ Bộ điều khiển khả trình PLC (programmable logic controller): Mặc dù thị trường tràn ngập PLC của các thương hiệu hàng đầu thế giới, vẫn có thể có ích nếu ra đời được một họ PLC đa năng, giá thành rất hạ để phục vụ cho các nhiệm vụ TĐH có mức độ phức hợp không cao nhưng số lượng lớn.

+ Bộ điều khiển CNC (computerized numerical control): Bộ điều khiển CNC vô cùng cần thiết đối với không chỉ công nghiệp chế tạo máy công cụ mà còn cả với nhiều ngành chế tạo máy khác (công nghiệp dệt may, máy xây dựng, công nghiệp điện tử vv…)

* Chip (vi mạch bán dẫn) điều khiển: Đến bây giờ có lẽ đã quá muộn để quay trở về xây dựng nền tảng công nghiệp bán dẫn từ đầu. Tuy nhiên, tại Việt Nam có thể thúc đẩy NC-PT ở quy mô công nghiệp các loại chip điều khiển chuyên dụng trên nền tảng chip trắng mua của nước ngoài. Các khái niệm FPGA hay cSoC (Customizable System-on-Chip) không hề xa lạ với chúng ta. Ví dụ: Có thể tạo nên bộ điều khiển CNC hay PLC trên cơ sở công nghệ cSoC, hay tạo nên ASIC (application specific integrated circuit) để ĐK động cơ các loại trên cơ sở chip trắng FPGA, PSoC (programmable system on chip).

* Bộ biến đổi chuẩn: Loại phần tử này trỏ vào các thiết bị biến đổi điện năng cơ bản dùng van bán dẫn công suất lớn (GTO thyristor, IGBT, IGFET, MOSFET), sử dụng trong thiết bị TĐH và kỹ thuật năng lượng. Đó là các thiết bị:

+ Biến tần, nghịch lưu: Sử dụng để ĐK các loại động cơ điện, máy phát điện chạy sức gió, các lưới điện thông minh (smart grid, đặc biệt quan trọng đối với nỗ lực năng lượng xanh).

+ Các thiết bị phục vụ cải thiện chất lượng truyền tải điện năng: Đó là các thiết bị cơ bản của công nghệ FACTS (flexible AC transmission systems) như lọc tích cực (active filter), bù hệ số công suất SVC (static VAR compensator, mắc song song trên lưới AC), bù hệ số công suất và ổn định điện áp SSSC (solid-state series controller, mắc nối tiếp trên lưới AC).

* Các phần tử đo lường: Có rất nhiều phần tử đo lường của TĐH mà ta gần như hoàn toàn phải nhập ngoại như các loại load cells, đo tốc độ quay quang học (incremental encoder), thước đo tốc độ chuyển động thẳng quang học.

Cần phải nói thêm rằng: Về phía lãnh đạo hiện có xu hướng khuyến khích, hỗ trợ NC-PT các lĩnh vực công nghệ cao. Các phần tử cơ sở liệt kê ở trên đòi hỏi ở chúng ta trình độ KHCN cao nhất. Vậy thì tại sao không có định hướng kích thích NC-PT chúng, nếu ta biết rằng chúng chính là “bột” để ta “gột nên” các thiết bị của lĩnh vực TĐH?

Đồng thời thực hiện các hướng NC-PT mang tính ứng dụng

Nguyên nhân khiến bài viết ở trên đã nói nhiều đến các phần tử cơ sở là vì chúng đã bị quên lãng trong chính sách khuyến khích NC-PT của Nhà nước, và thực tế cũng không chiếm vị trí quan trọng trong chương trình hành động của KC.03/11-15. Việc nói nhiều đến NC-PT các phần tử cơ sở của TĐH không có nghĩa là chúng ta quên các hướng NC-PT mang tính ứng dụng.

Tuy nhiên, không thể mãi tiếp tục cách làm như hiện nay mà phải đổi mới cách đề xuất đề tài, cần phải thông qua các chủ trương và chính sách phát triển cơ cấu ngành kinh tế của Nhà nước, và kết hợp với ý kiến tư vấn của các hội đồng KH để từ đó:

* Xây dựng danh mục lĩnh vực cần được ưu tiên quan tâm của nền kinh tế quốc dân?

* Xác định danh mục các vấn đề/sản phẩm, cần được ưu tiên NC-PT của các lĩnh vực thuộc danh mục trên?

* Xác định quy mô của công tác NC-PT: Sau khi đã xây dựng được danh mục các vấn đề/sản phẩm, cần phải xác định được quy mô NC-PT của từng vấn đề/sản phẩm, ở mức một, hay một vài đề tài NCKH đơn lẻ, hay một dự án NCKH (gồm nhiều đề tài NCKH kết hợp)?

* Xác định danh mục đề xuất đề tài: Chương trình KC.03/11-15 phải là cơ quan chủ quản, đại diện Nhà nước chủ động trong việc bóc tách thành các đề tài được đề xuất.

* Xây dựng đề bài cho từng đề tài.

C. KẾT LUẬN

Bài báo đã xuất phát từ các phân tích mang tính chủ quan của người viết về thực trạng định hướng NC-PT nói chung, và trên lĩnh vực TĐH nói riêng, để đưa ra 4 nhận xét rằng chúng ta đang thiếu:

* Định hướng phát triển đúng,

* Chính sách phù hợp khích lệ doanh nghiệp đầu tư cho NC-PT,

* Chính sách phù hợp khích lệ nhà KH nghiên cứu, và phương thức đề xuất đề tài NCKH của các chương trình KC hợp lý.

Trên cơ sở nhận xét ấy, người viết mạnh dạn đề xuất rằng chúng ta cần phải:

* Khẳng định hướng NC-PT các phần tử cơ sở của TĐH, đồng thời

* Thực hiện các hướng NC-PT mang tính ứng dụng.

Đề xuất thứ nhất nhằm lấp vào khoảng trống trong định hướng NC-PT hiện nay của lĩnh vực TĐH. Đồng thời, ẩn trong các diễn giải, người viết cũng đề nghị cần phải thay đổi lại phương thức đề xuất - gạn lọc - xét tuyển các đề tài/dự án NC-PT của chúng ta hiện nay.

Số 145 (1+2/2013)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật