Trang chủ Diễn đàn Xuất lao động thô, nhập lao động tinh: Lời giải không chỉ thuộc về đào tạo

Xuất lao động thô, nhập lao động tinh: Lời giải không chỉ thuộc về đào tạo

Theo thống kê từ các công ty được cấp phép làm xuất khẩu lao động (XKLĐ), đến  nay đã có gần triệu người đi (XKLĐ), còn nếu kể cả số lao động đi nước ngoài  không qua các công ty XKLĐ thì con số này chắc phải tăng thêm nhiều.

Trong gần 200 đơn vị có giấy phép làm XKLĐ (trên internet) khi xem thông báo tuyển dụng của họ đi XKLĐ thấy rõ người được tuyển đi để làm lao động phổ thông chiếm đa số. Ngay cả một công ty XKLĐ tuyển 100 lao động nữ đi làm về điện tử cũng chỉ yêu trình độ tốt nghiệp THPT. Còn đi làm các việc khác như xây dựng, may mặc, giúp việc gia đình thì cần sức khỏe là chính. Vì chủ yếu là tuyển lao động phổ thông, cho nên có những người đã học xong trường nghề thậm chí đã tốt nghiệp đại học muốn đi lao động nước ngoài cũng tham gia vào nhóm này.

Hiển nhiên làm lao động phổ thông người lao động được lương thấp, ít được coi trọng và điều quan trọng hơn là khi kết thúc hợp đồng lao động họ không đem được gì thêm về cho mình và nhất là cho xã hội về những tiến bộ của thế giới trong môi trường họ đã làm việc.

Thực hành nghề  ở Trường Trung cấp Kỹ thuật công nông
nghiệp Yên Thành, Nghệ An, ảnh minh họa -Tuấn Đức

Còn về nhập khẩu lao động thì sao?

Trong cơ chế thị trường nhiều doanh nghiệp (DN) đã nhập dây chuyền công nghệ tiên tiến để sản xuất ra hàng hóa không những phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn tham gia vào thị trường thế giới. Nhờ đó thế giới biết Việt Nam không chỉ bằng quá khứ trận mạc mà ngày hôm nay bằng hàng hóa dùng cho đời sống thường nhật của họ nữa. Nhà DN bỏ ra tiền tỷ để đầu tư các dây chuyền sản xuất hiện đại có độ thông minh cao. Dây chuyền công nghệ mới có những chỉ tiêu về: năng suất, chất lượng hàng hóa, tiết kiệm năng lượng, ít phế phẩm, ít độc hại, cải thiện môi trường sống và cuối cùng là hiệu quả kinh tế của DN vượt trội.

Dưới góc nhìn của nhà DN thì việc hiện đại hóa nên công nghiệp như Chiến lược phát triển KT-XH nước ta vào năm 2020 là nước công nghiệp có kỹ thuật hiên đại là rất phù hợp với hướng đầu tư của họ. Song quá trình hiện đại hóa theo cách đầu tư như trên làm cho DN lệ thuộc càng sâu thêm vào hệ thống thiết bị, máy móc của nhà chế tạo. Dây chuyền sản xuất nằm ở chỗ ta, còn linh hồn của nó lại nằm ở chỗ họ. Trong sản xuất bao nhiêu vấn đề xảy ra từ những trục trặc trong vận hành, các yếu tố đầu vào của sản xuất biến động, sản phẩm đầu ra cần thay đổi, hoặc phải cải tạo nâng cấp hệ thống sản xuất cho phù hợp với nhu cầu mới,... Muốn vậy bộ não của dây chuyền bao gồm phần mềm và kéo theo cả phần cứng phải thay đổi. DN không thể tự làm được, phải mời chuyên gia bản hãng đến thực hiện. Đó chính là DN phải nhập chất xám, nhập lao động tinh. DN thì tự giác làm việc đó dù có phiền hà và tốn kém đến đâu vì phải đưa dây chuyên vào hoạt động để sản xuất và sinh lợi nhuận.

Xuất lao động thô, nhập lao động tinh hiện đang là một thực tế, nhưng không phải ai cũng tường tận điều này. Lẽ rất đơn giản là ta chỉ làm được như thế nên đành phải chịu thế!

Có phải thực sự chúng ta không có người lao động tốt hơn? Có phải việc dạy người dạy nghề và đào tạo của ta đến mức sản phẩm chỉ được như vậy?

Tôi còn nhớ những năm 60- 90 của thế kỷ trước ta đã có các chuyên gia y tế, giáo dục đi làm việc ở nhiều nước châu Phi, họ đã hoàn thành công việc tốt đẹp đem lại  lợi ích cho Nhà nước và cho bản thân họ. Đi làm việc ở vị trí đó nhân cách được coi trọng. Bản thân người lao động cũng phải tự nâng cao vị trí của mình để cho “người ta trông vào” vì đây là chuyên gia Việt Nam. Tự hào mình là người Việt Nam nên không có sự lộn xộn trong quan hệ giữa đồng đội và với đối tác. Nhà nước chọn người đi làm về chuyên môn và về tư cách. Trong công việc các chuyên gia tự nâng giá trị của mình thông qua tự học tập và rèn luyện. Khi hết hạn làm việc họ còn đem theo về những giá trị vô hình khác mà họ tiếp nhận được trong thời gian làm chuyên gia để triển khai vào công việc trong nước.

Bây giờ điều đó ít được chú ý là vì chúng ta chỉ đưa lao động phổ thông đi làm việc, chỉ dùng cơ bắp là chính mà ít dùng lao động trí não. Lao động như vậy bị xem thường và chính người lao động cũng không coi trọng giá trị của mình. Từ đó sinh ra nhiều sự lộn xộn, kỷ luật kém, vi phạm luật pháp nước sở tại… và người ta nhìn mình bằng con mắt thiếu thuyết phục!

Câu hỏi đặt ra là tại sao ta không làm được XKLĐ có giá trị như lao động kỹ thuật, lao động chọn lọc hoặc kết hợp cả lao động chất lượng cao với lao động giản đơn trong một gói công việc của nước bạn.?

Lực lượng lao động của ta với số lượng không ít đã được qua đào tạo ở các cấp học và ở mức độ khác nhau. Con số hàng năm vào học trong các trường từ đại học đến trường nghề lên tới trên nửa triệu người - xấp xỉ bằng con số tốt nghiệp THPT. Về chất lượng đào tạo thì còn phải bàn tiếp. Nhưng với số lượng ra trường hàng năm lớn như thế có thể tìm lọc ra chất lượng theo yêu cầu với con số cũng không nhỏ. Vấn đề chính là tổ chức và biện pháp cụ thể mới có cách tiệm cận người sử dụng lao động để từ đó tìm ra phương pháp tuyển dụng người lao động đáp ứng nhu cầu của họ.

Công tác chỉ đạo chưa thể hiện chủ trương về XKLĐ tỉnh

Hãy quan sát mối liên hệ giữa công ty XKLĐ và các trường đào tạo. Hầu như 2 khối đó tách rời nhau. Trường cứ dạy và học sinh tốt nghiệp tràn ra ngoài phố. Những người lao động đã qua đào tạo không có việc lại nhập vào đội ngũ những người lao động phổ thông đi XKLĐ hoặc vào các DN, các khu công nghiệp, khu chế xuất để học việc thông qua các trường tự mở của họ. Những DN lớn đều có trường riêng để đào tạo cho mình. Họ không thừa nhận sản phẩm đào tạo của trường khác, kể cả các trường này vượt trội về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, và có bề dày kinh nghiệm giảng dạy. Điều đó như là một nghịch lý mà ở Việt Nam lại tồn tại và phổ biến. Có thể dẫn chứng ra đây có rất ít hoặc hầu như không có những trường (kể cả các trường đại học) có những hợp đồng cung cấp nhân lực, thực hiện cam kết giao cho DN đúng thời gian, đủ số lượng và trình độ chuyên môn có kỹ năng nghề…

Không có hợp đồng cung ứng lao động như trên không hẳn là do khâu dạy kém, đến nỗi thanh niên đã qua đào tạo mà vẫn như chưa! Về việc dạy và học, về thầy và thợ sẽ còn phải bàn nhiều nhất là khi Quyết định 630QĐ/TTg của Thủ tướng Chính phủ mới ban hành đã mở ra nhiều hướng tháo gỡ cho đào tạo nghề. Vấn đề quan trọng ở đây là có chiến lược phát triển nhân lực chưa đủ, chính sách cụ thể, biện pháp tổ chức để thực hiện mới tạo ra được sự bứt phá trong đào tạo và cung ứng nhân lực thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay.

Ta nói nhiều về đào tạo theo nhu cầu nhưng người cung ứng lao động lại không biết được nhu cầu sử dụng thì làm sao làm tốt được. Thường thì các công ty XKLĐ làm XKLĐ phổ thông dễ hơn và trách nhiệm ít hơn. Các nước có nhu cầu lao động, đâu phải họ chỉ cần lao động phổ thông, họ cần cả lao động có tay nghề, lao động chất lượng mà ta không có người để biết, hoặc không biết cách để tìm tòi. Phải nói rằng nhu cầu của nhiều nước về lao động chất lượng là có thực sự và khả năng đáp ứng nhu cầu đó ở trong nước ta cũng thực sự có thể làm được.

Trong lao động chất xám ta chưa chủ động được, vẫn lệ thuộc, điều đó nhiều người biết và DN cũng biết. DN chấp nhận sự lệ thuộc là vì lợi nhuận của họ. DN không bao giờ đầu tư lớn cho nghiên cứu, họ chỉ khai thác khi có lợi. Còn nếu nhà nước đầu tư thì DN được lợi vì chất xám nội hóa rẻ hơn. Và quan trọng hơn cả là trí tuệ Việt Nam có cơ hội thể hiện, cũng là mục tiêu để kinh tế Việt Nam tiến vào  kinh tế tri thức trong tương lai. Trong thời đại hiện nay với một thế giới phẳng về thông tin với nền tảng ban đầu của khoa học công nghệ đã được đầu tư và là nước có dân số trẻ ham học hỏi vươn lên, chúng ta có thể làm cho KHCN Việt Nam phát triển. Còn nếu chúng ta không làm thì kinh tế Việt Nam vẫn phải đi lên theo qui luật điều phối thị trường, nhưng phát triển KT-XH sẽ kém bền vững hơn, lợi ích sẽ ít đi, thiệt hại lớn và tiến bộ sẽ chậm.

Nhà nước đang xã hội hóa đào tạo đại học (!) nhưng chưa xã hội hóa được đào tạo nghề là do không tìm được nhu cầu sử dụng nghề cho nên không có người vào học để dạy. Nên chăng cần có cách nhìn tổng quát hơn về đào tạo nghề theo nghĩa nghề nghiệp trong một xã hội công nghiệp của nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại. Đào tạo phải lấy mục tiêu phục vụ sản xuất kinh doanh làm chính vì vậy việc cung cấp nhân lực chỉ do Bộ LĐTB&XH làm, việc học hành chỉ do Bộ GD&ĐT phụ trách là chưa đúng và chưa đủ.

Thực tế con người phát triển qua 2 giai đọan: trưởng thành và lao động. Hai công đoạn này phải do hai Bộ đảm nhiệm. Để thành con người phát triển toàn diện từ trẻ sơ sinh đến khi tốt nghiệp THPT phải do một Bộ phụ trách như Bộ Giáo dục trước kia đã làm. Giai đoạn sau để con người phát huy khả năng của minh mà cống hiến tốt nhất cho xã hội cần một bộ quản lý như Bộ đại học và Dạy nghề (?). Trong tương lai lao động thủ công (chỉ cần cơ bắp) sẽ không còn nữa. Vì vậy đào tạo nghề với đào tạo đại học như hiện nay sẽ không nên tách rời. Khi làm việc thì người lao động theo trình độ và kỹ năng của mình chiếm lĩnh những phân đoạn công việc được xác định cụ thể trong nghề nghiệp.

Bài toán về xuất lao động thô nhập lao động tinh sẽ được cải thiện tiến tới trong tương lai sẽ phải làm cho nó đổi chiều. Đó không phải là điều không làm được, chỉ sợ sự tự ty làm mất con đường tiến.

Trịnh Đình Đề
Tổng Biên tập Tạp chí tự động hóa
Hiệu trưởng Trường Trung cấp nghề Kỹ thuật cao Bắc Ninh

Số 143 (11/2012)♦Tạp chí tự động hóa ngày nay


Tin cũ hơn:

 

Tìm kiếm

Quảng cáo&Liên kết




 



 

 

Mới cập nhật